Vietnam Rivers Network

Vietnam Rivers Network

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Vietnam Rivers Network, Community Organization, Suite 12A03, 24-T2 Tower, Hoang Dao Thuy Street, Cau Giay District, Hanoi.

Photos from Vietnam Rivers Network's post 21/07/2023

Nỗ lực hoạt động nâng cao giá trị sản xuất và bảo vệ môi trường
Tại ấp Thới Bình A – Đồng bằng sông Cửu Long

Với nhận thức về vai trò của cộng đồng trong quản trị tài nguyên nước và phát triển sinh kế, nhóm cộng đồng Bảo vệ Môi trường ấp tại Thới Bình A – xã Thới Thạnh - huyện Thới Lai – TP. Cần Thơ từ nhiều năm nay đã chủ động áp dụng cơ cấu canh tác cấy lúa 2 vụ trong năm, không những thế các thành viên trong nhóm kiên trì vận động để bà con trong ấp sản xuất theo cơ cấu canh tác này.

Hiện nay tổng diện tích sản xuất 2 vụ/năm đạt diện tích 81 ha với giống lúa Đài thơm số 8 và OM số 18, chỉ còn 19 ha vẫn trồng lúa vụ 3. Các thành viên trong Nhóm cộng đồng bảo vệ Môi trường cho biết, canh tác 2 vụ lúa/năm mang lại nhiều lợi ích về môi trường - kinh tế như hạn chế gây ô nhiễm nguồn nước, chất lượng nước sạch hơn và nguồn lợi thuỷ sản được phục hồi, có môi trường cho cá được lên đồng sinh sản; bà con thu được lợi nhuận là 3,500,000 đồng/công Canh tác lúa 2 vụ sử dụng 14 kg thóc giống/công đất,năng xuất đạt 8000 kg/công và bán được giá ở mức 7000 đồng/kg cho tổng thu nhập đạt 5,600,000 đồng/công, trừ chi phí sản xuất 2.100.000đồng /công.

Thành viên trong nhóm sẽ tiếp tục vận động bà con trong sản xuất tăng diện tích trồng lúa 2 vụ và giảm tiến tới không trồng lúa vụ 3 vì không được nghỉ để phục hồi mà phải bón nhiều phân gây ngộ độc chất hữu cơ cho môi trường đất và cũng ảnh hưởng đến chất lượng thóc. Canh tác 2 vụ lúa trong năm để cho đất được phục hồi sẽ cho năng suất cao ở vụ sau từ đó tiết kiệm chi phí sản xuất, bảo vệ tài nguyên đất và nước, phục hồi nguồn lợi thuỷ sản qua đó từng bước tăng cường sức khoẻ cho người dân đặc biệt là trẻ em và chị em phụ nữ.

Bài và ảnh: Phan Quốc Dũng - Nhóm cộng đồng ấp Thới Bình A
Ảnh chụp ngày 5 tháng 7 năm 2023

Photos from Vietnam Rivers Network's post 08/06/2023

Đề xuất nghiên cứu kênh truyền thông riêng về môi trường

Nhằm tăng cường hiệu lực trong các hoạt động truyền thông tài nguyên và môi trường, cần đa dạng hóa kênh thông tin, nghiên cứu xây dựng kênh truyền thông chuyên biệt.

Hình thành ý thức trách nhiệm, kỹ năng thích ứng với biến đổi khí hậu

Hưởng ứng Tháng hành động vì môi trường nhân kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới (5.6), sáng 7.6, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo tổng kết 10 năm công tác thông tin, tuyên truyền về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường giai đoạn 2013 – 2023.

Phát biểu tại hội thảo, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Thanh Mai cho biết, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Nhiều chỉ thị, nghị quyết đã được ban hành đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, trong đó có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3.6.2013 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (Nghị quyết số 24).

Nghị quyết số 24 khẳng định việc “tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường” là giải pháp hàng đầu để triển khai, thực hiện.

Thời gian qua, triển khai thực hiện yêu cầu trên của Nghị quyết Trung ương và Chỉ thị của Ban Bí thư, các cấp, các ngành đã tăng cường tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu. Hàng năm, Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành các hướng dẫn tuyên truyền theo chủ đề; lồng ghép các nội dung bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu vào các hướng dẫn tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Công tác xây dựng các tiêu chí, chuẩn mực về bảo vệ môi trường được triển khai rộng rãi tại nhiều địa phương; lồng ghép trong các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; bước đầu hình thành các thiết chế văn hóa, đạo đức môi trường trong xã hội. Hoạt động bảo vệ môi trường đã gắn với các cuộc vận động và phong trào lớn như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, phong trào “Chống rác thải nhựa”…

Thông qua các hoạt động tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp quản lý và cộng đồng về bảo vệ môi trường. Đáng chú ý, theo TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA, đã hình thành ý thức trách nhiệm và kỹ năng thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường của người dân và doanh nghiệp.

Ưu tiên nguồn lực cho truyền thông chính sách

Tuy vậy, theo Ban Tuyên giáo Trung ương, công tác tuyên truyền, quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 24 còn có những tồn tại, hạn chế. Một số nơi còn thực hiện chưa tốt, mang tính hình thức. Nội dung tuyên truyền chưa thực sự phong phú, đa dạng, chưa đi vào chiều sâu. Trong 10 năm qua, có những vụ việc môi trường xảy ra bất ngờ, nghiêm trọng và chưa có tiền lệ. Công tác phối hợp thực hiện các hình thức tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có lúc chưa phong phú, đa dạng, nhất là việc tuyên truyền trực tiếp tại cơ sở…

Văn kiện Đại hội XIII dự báo “biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường… tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với các thách thức truyền thống và phi truyền thống khác sẽ còn tác động mạnh đến sự phát triển của nước ta trong những năm tới”. Theo dự báo, Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt với những tổn thất và thiệt hại vượt ngoài khả năng ứng phó ngay cả khi đã áp dụng triệt để các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trong bối cảnh đó, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Thanh Mai lưu ý, để thực hiện thành công những nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức về bảo vệ môi trường, khắc phục tình trạng ô nhiễm, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững thì một trong những giải pháp hàng đầu, quan trọng cần tiếp tục đẩy mạnh là đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền.

Đề xuất giải pháp cụ thể, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, cần tăng cường nguồn lực, bao gồm nhân lực và nguồn kinh phí cho các hoạt động truyền thông. Trong đó, ưu tiên các hoạt động truyền thông chính sách, đặc biệt trong quá trình ban hành chính sách; truyền thông các vấn đề nổi cộm cấp bách về ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Cùng với đó, tích cực phối hợp các cơ quan thông tấn báo chí mở mới các chương trình; mở rộng thời lượng, nâng cao chất lượng các chương trình, chuyên đề tài nguyên và môi trường. Ưu tiên xây dựng kênh truyền thông riêng về tài nguyên và môi trường trên kênh truyền hình Trung ương để cung cấp kịp thời, thường xuyên các thông tin về tài nguyên và môi trường đến cộng đồng.

Các đại biểu cũng đề nghị, cần tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, liên thông, cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý và điều hành các nhiệm vụ liên quan tới thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, định hướng thông tin tuyên truyền về ba lĩnh vực này. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế, học tập kinh nghiệm của các nước thành công trong công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phòng tránh thiên tai để có cách làm phù hợp với nước ta.

Theo: daibieunhandan.vn

08/06/2023

Doanh nghiệp cơ khí nỗ lực đáp ứng tiêu chí ESG để gia tăng xuất khẩu

Ngày càng có nhiều doanh nghiệp đã và đang tiếp tục nỗ lực giảm thải khí carbon và rác thải, sử dụng nguồn đầu vào có trách nhiệm xã hội, nhằm đáp ứng các tiêu chí ESG (môi trường, xã hội và quản trị), đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.

Phát triển sản phẩm xanh

Ngày 2/6/2023, trong khuôn khổ chương trình Tuần lễ Triển lãm sản phẩm ngành cơ khí, thiết bị điện và công nghệ số năm 2023, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TPHCM (ITPC) phối hợp với Hội Doanh nghiệp Cơ khí - Điện TPHCM (HAMEE) tổ chức Hội thảo “ESG - Dịch chuyển tất yếu của chuỗi cung ứng toàn cầu” nhằm giúp các doanh nghiệp xuất khẩu chuẩn hóa các quy định khi xuất khẩu sản phẩm, nhất là vào thị trường châu Âu.

Trong vài năm gần đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đã và đang tiếp tục nỗ lực trong việc giảm thải khí carbon và rác thải, sử dụng nguồn đầu vào có trách nhiệm xã hội, nhằm đáp ứng các tiêu chí ESG (môi trường, xã hội và quản trị). Tiêu chí này cũng đang ngày càng trở nên quan trọng đối với nhà đầu tư và người tiêu dùng, đặc biệt là các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và mảng hậu cần.

Bởi lẽ, các nguồn vốn trực tiếp nước ngoài (FDI) ràng buộc phát triển nghiêm ngặt trong khuôn khổ ESG. Để các doanh nghiệp có thể nhận được nguồn vốn này cũng như các dự án có thể đi vào triển khai, ngoài những quy định tại nước sở tại, ESG tại doanh nghiệp cũng phải được tuân thủ rõ ràng.

Ông Nguyễn Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm ITPC cho rằng, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có những thay đổi trong tư duy quản trị về phát triển bền vững và đưa ESG vào trong chiến lược kinh doanh. Các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng như ngành hàng lương thực, thực phẩm và đồ uống từng bước thực hiện phát triển bền vững như sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường, quan tâm đến phát triển kinh tế địa phương, các hoạt động hỗ trợ cộng đồng và đặc biệt tập trung vào sản suất sản phẩm xanh và sản phẩm được gắn nhãn xanh bởi tổ chức uy tín trong nước.

Trong đó, sản phẩm xanh là sản phẩm đáp ứng 4 tiêu chí, gồm: sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường, sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn cho môi trường và sức khỏe thay thế sản phẩm độc hại, sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng (ít chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì và sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khoẻ).

Lưu ý về cơ chế điều chỉnh biên giới carbon

Ông Kiều Huỳnh Sơn, Phó Chủ tịch HAMEE cho rằng, với 300 hội viên trong lĩnh vực ngành cơ khí điện, chuyển đổi số, công nghiệp hỗ trợ… năm nay, trước những khó khăn, thách thức đối với doanh nghiệp ngành cơ khí điện, Hội cơ khí điện đã xây dựng nhiều chương trình xúc tiến thương mại, để giúp doanh nghiệp tìm thêm khách hàng bù đắp phần thiếu hụt đơn hàng; đồng thời chuẩn bị tâm thế để đón cơ hội xuất khẩu trong thời gian tới.

Tại hội thảo, đại diện HAMEE phân tích, những xu thế ESG toàn cầu; giải đáp những thắc mắc của doanh nghiệp về nền kinh tế xanh: phát triển bền vững và hiệu quả, đây vừa là thách thức và cơ hội cho các doanh nghiệp thực hành ESG; đồng thời nhấn mạnh những ưu thế mà Việt Nam hiện có để có thể tiếp cận thị trường toàn cầu. So với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam có một số lợi thế để tranh thủ sự dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng, như chính trị - xã hội ổn định, nguồn lao động trẻ dồi dào, tiềm năng thị trường gần 100 triệu dân với tầng lớp khá giả ngày càng tăng...

Bên cạnh đó, Việt Nam ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hiệp ước thương mại và có quan hệ tốt đẹp hơn với các đối tác thương mại của mình trong khu vực. Điều này giúp làm giảm chi phí xuất khẩu các mặt hàng may mặc, giày dép và điện tử tới các thị trường toàn cầu. Việc là thành viên của ngày càng nhiều các hiệp định thương mại tự do được xem là điểm mạnh cốt yếu của môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Là một nhân tố trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam có điều kiện xuất khẩu tất cả các mặt hàng sang các quốc gia trong cộng đồng với mức thuế bằng không. Trong khi đó, các hiệp định thương mại của chính ASEAN với hàng loạt các quốc gia khác trên thế giới trong vòng 16 năm qua cũng đã đem lại cơ hội cho Việt Nam tiếp cận với các khu vực khác ngoài ASEAN; tính hiệu lực của các thương vụ này càng được củng cố hơn nữa bởi Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực gần đây.

Việc phát triển ESG sẽ là chìa khóa trọng tâm trong quá trình dịch chuyển tất yếu của chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp nâng cao tính bền vững trong chuỗi cung ứng, không những giảm chi phí, tăng năng suất mà còn tạo ra một hệ sinh thái bền vững hỗ trợ tăng trưởng, tranh thủ được cơ hội, cũng như giảm thiểu các thách thức từ xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu để phát triển nhanh, bền vững và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời gian tới.

Chia sẻ về kinh nghiệp triển khai ESG từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hoàng Dũng, Giám đốc Digiwin Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường châu Âu lưu ý, muốn tiến vào thị trường này cần nắm rõ về cơ chế điều chỉnh biên giới carbon -CBAM sẽ được áp dụng triển khai vào tháng 10/2023.

Photos from Vietnam Rivers Network's post 04/04/2023

Di Sản của Làng Nôm
Bảo Tồn và Thích Ứng

Photos from Vietnam Rivers Network's post 23/03/2023

Dòng sông trước mặt làng

Trước mặt làng tôi có một dòng sông.

Vào cuối xuân đầu hè, gió Lào khô và nóng, nước của dòng sông Tích chỉ còn leo lét chảy, có đoạn gần như đứt khúc, đó là lúc hội đánh cá rập sào của các làng ven sông vào vụ. Ông ngoại tôi cởi trần đóng một cái khố nhuộm nâu, ra ngõ hú lên một tiếng dài. Lát sau rất nhiều tiếng hú của các xóm vọng lại. Mọi người túa ra đường chính, đàn ông và trai tráng làm thành một đoàn với các dụng cụ bắt cá trong tay kéo ra sông Tích.

Mẹ tôi con gái “đồng ao” (vùng sông nước) lấy chồng vào nhà tôi làm ruộng. Trong những ngày vắng cha gian khó, mẹ đã nhiều đêm đứng trước dòng sông và cất tiếng thề bồi trong nước mắt. Năm, sáu tuổi tôi vẫn thường theo mẹ về bên ngoại. Với tôi đó là cả một thế giới đấy hấp dẫn. Tôi thường theo người cậu xuống ao, ao nọ nối ao kia, cả một tràn ao vài mẫu Bắc bộ là nguồn sống của gia đình. Cậu tôi là người nuôi cá và thả rau nước (rau muống bè, rau rút, rau cần…) nổi tiếng một vùng. Những ngày thơ bé, cậu dạy tôi nhặt những chùm trứng ốc quanh bờ, đặt lên một cái lá khoai nước, đẩy ra xa. Tôi hỏi cậu, để làm gì? Cậu tôi bảo, để lũ chuột không ăn mất trứng. Mấy ngày sau, trong lòng những cái lá khoai, hàng trăm con ốc vừa nở bu trên mặt lá. Khi cái lá sắp nát thì cũng là lúc lũ ốc bắt đầu cuộc đời tự lập. Tôi nhìn mặt nước mênh mông mà bâng khuâng buồn vì không biết chúng đi đâu về đâu. Tôi nhìn vóng ra ngoài chân tre, nơi ấy là một bờ lũy dày. Ngoài bờ lũy là dòng sông. Sau rất nhiều lần như thế tôi hỏi mẹ có nghe thấy gì không? Mẹ tôi hỏi lại, nghe thấy cái gì cơ? Tôi không trả lời mẹ rằng tôi đã nghe thấy tiếng của dòng sông. Nhưng mẹ tôi, bằng linh cảm của mình, vẫn biết. Từ đó bà rất hay kể về dòng sông…

Mẹ tôi kể, cái bến Xăm sở dĩ rất ít người qua lại là bởi nó liên quan đến một câu chuyện hư ảo. Chuyện không biết xảy ra từ hồi nào, nhưng qua lời kể tôi đã hình dung cái quán nước của bà Vần dưới gốc bàng cổ thụ với cái chõng tre chỏng trơ vài chiếc bát đàn đong nước vối, nước chè; mấy món hàng quà bánh lèo tèo. Một đêm hôm trời chuyển mùa, bà Vần thấy người ê ẩm đau, mãi đến khuya mà vẫn không chợp mắt được. Nửa đêm về sáng, bà Vần lần xuống bến Xăm, không gian ba bên bốn bề lặng phắc, chỉ còn lại dòng sông Tích sáng lên trong đêm. Thoảng trong gió hình như có tiếng người. Đúng là có tiếng người: Ngày mai có một người đội nón sắt đi ngang qua đây, ta sẽ bắt xuống thế mạng. Bà Vần sợ run người lần về nhà, thấp thỏm đến sáng không hợp mắt.

Ngồi trong quán nước, đợi gần hết cả ngày mà không thấy ai đội nón sắt đi ngang. Quay vào toan đóng cửa thì có khách bước vào, vừa gọi nước người đó vừa lững thững đi xuống bến. Sực nhớ ra, bà Vần cất tiếng hỏi: “Này cái nhà bác kia, đi đâu mà giờ mới về đến đây?”. Khách đáp: “Tôi ra tỉnh mua cái chảo về sao chè”. Thôi chết rồi! Nhớ tới câu nói dưới bến đêm qua, bà Vần một mực lôi kéo người đó ngồi uống nước, rồi kể lại câu chuyện. Người khách sợ tái mặt không dám xuống bến nữa, đội cái chảo gang lên đầu rồi nhảng chân bước vào chiều chạng vạng. Từ hôm ấy, quán nước của bà Vần không bán được cho ai nữa. Cả nước vối lẫn nước chè hễ nấu buông tay là thiu. Còn bánh kẹo và hoa trái đều bị bấy nát và nhớt nhèo. Dân làng Mông Phụ bảo đấy là do ma vày. Mẹ tôi giải thích, dưới bến có con nam nam. Con nam nam này phải nhụt được ai chết đuối thì nó mới có thể lên trần được.

Làng tôi nơi dòng sông Tích đi qua biết bao nhiêu là bến, bến nào cũng có người đuối nước nhưng hình như không ai sợ. Biết bao nhiêu công việc thường nhật của một cộng đồng dân cư bao đời nay đã gắn liền với các bến sông này. Đây là Đầu Trâu, Cổ Giải. Nữa là Bến Kê, Bến Xăm. Rồi, cầu Trắng, cầu Vang, cầu Cam Lâm… Nhiều lúc thẫn thờ bên bờ sông, tôi hết nhìn ngược lại nhìn xuôi và tự hỏi lòng mình. Từ nơi thượng nguồn đến hạ lưu sông Tích có biết bao nhiêu là bến nước trong các làng quê, biết bao nhiêu là chuyện nơi dòng sông đi qua. Cho đến tận bây giờ, mấy chục năm qua đi, thỉnh thoảng đến với dòng sông, với tôi dòng sông luôn luôn và bao giờ cũng đầy quyến rũ vẫy gọi.

Năm ấy, có lẽ lâu lắm rồi mới có một mùa mưa như thế. Đứng ở làng chiều chiều nhìn về núi Tản, ngà lũ buông dài mấy vệt trắng muốt. Dân làng bảo mấy chục năm nay mới lại thấy ngà lũ xuất hiện. Trốn mẹ, tôi ra cổng làng. Mới chỉ có mấy hôm mà nước đẩy hai bờ sông Tích xa tít tắp. Nhìn thấy nước mà như cảm thấy cả một triền nghiêng núi Tản dồn nước về làng tôi. Con đường xuống bến Xăm ngập lút trong nước. Cây bàng cổ thụ hở mỗi cái tán như một đĩa xôi cốm giữa mênh mông nước bạc. Nước sông Tích dồn vào các giộc (khoảng đất trũng giữa hai lũng đồi). Cả làng nhộn nhịp chặt tre chuẩn bị làm đăng ngăn các cửa giộc để bắt cá. Ngoài sông Cái lũ thượng nguồn cũng cuồn cuộn đổ về, dân làng ở ngoài bờ sông nhộn nhạo chuyển gia đình và gà lợn lên mặt đê tránh lũ. Trống ngũ liên một ngày đổ mấy hồi gọi thanh niên đi chống lụt… Mẹ tôi bảo: Nước trong (sông Tích), nước ngoài (sông Cái) bao nhiêu người chết đuối kia kìa. Mẹ cấm các con ra nghịch nước. Thế rồi cái tin vỡ đê loang ra làm nhộn nhạo cả vùng. Ngày ấy không có các phương tiện thông tin như bây giờ nhưng sao cái tin đê vỡ lại nhanh khủng khiếp như vậy. Lần đầu tiên trong đời tôi mới hiểu một phần câu nói của người xưa: Thủy, hỏa, đạo tặc (nước, lửa, trộm cướp và giặc dã), trong bốn thứ ấy, nước được xếp hàng đầu.

Mãi tới chiều thì cả làng mới chính thức biết tin: Vỡ đê Khê Thượng, huyện Bất Bạt (quê của cụ Tản Đà), đó là năm 1971. Hơn chục năm sau đi qua đây tôi nghe dân làng kể lại mà vẫn còn sợ. Đêm hôm ấy có một anh bộ đội được nghỉ phép từ miền Nam ra. Về đến đầu làng anh ta nhận thấy đất dưới chân mình… rung rinh. Là dân bờ sông, anh đã nhận ra vấn đề nên vội vã kêu to: Đê vỡ cả làng ơi! Vừa chạy vừa kêu. Phía sau anh bộ đội từng quãng đê dài cứ bị nước sùng sục cuốn đi, may mà kịp. Hôm ấy mà chậm chân có khi người lính kia không ngã xuống nơi chiến trường mà có thể chết ngày trên quê mình vì một thứ mà thường ngày ai cũng nói: Hiền như nước.

Nước cứ chảy như thế đến ngày hôm sau. Hôm ấy, thành phố Hà Nội lệnh báo động cho các huyện lân cận chống lụt. Nghe nói mấy chục cái sà lan trở đầy đá hộc được đẩy vào để hàn khẩu đoạn đê vỡ dài gần một kilômét. Sau đó nước sông Đà giảm nên việc đắp đê mới coi là tàm tạm. Làng tôi cách Khê thượng khoảng hai chục kilômét (kể theo đường sông Tích cũng như là đường bộ). Một ngày mấy tin: Nước đã về đến Quảng Oai (huyện lị của huyện Ba Vì bây giờ), rồi lại đến Tiên Phong, Thanh Lũng, Bình Lũng. Xưa kia đất này là Cam Giá Thượng tổng, còn vùng tôi (xã Đường Lâm bây giờ) là Cam Giá Hạ. Cả làng nhộn nhạo, lệnh của chính quyền địa phương cho dân ở chỗ thấp sơ tán lên chỗ cao. Gia đình cậu tôi rục rịch chuyển đồ lên nhà tôi. Tôi xuống bờ ao đến gần bên cậu. Cậu tôi thở dài, bảo: Không khéo lại giống năm Tổng khởi nghĩa. Tôi biết đó là năm 1945. Mẹ tôi bảo: Đó là một năm nước ngộ, đê vỡ lung tung. Cả miền Bắc lâm vào một nạn đói kinh khủng nhất trong lịch sử nước nhà.

Thế rồi nước cũng về đến làng. Bắt đầu là cá, cá tự nhiên cứ nhảy vọt lên mặt nước. Nhiều con trắm đen to như một khúc gỗ lao lên rồi rơi ùm xuống làm nước bắn lên tung tóe. Cậu tôi bảo: Nước sông Đà tràn vào ao rồi đó. Tôi ngồi thu lu bên bờ nhìn nước. Nước cứ âm thầm như kiến bò ven bờ, thoáng chốc bờ ao, bờ ruộng chỉ còn là những vệt mờ mờ xanh rồi mất hút. Cậu tôi buồn rầu nhìn thành quả lao động cả một năm trời bỗng nhiên trôi ra sông ra bể. Sức nước lớn đến mức không gia đình nuôi cá nào có thể vớt vát được. Thế rồi cơ man nào là ốc. Những con ốc nhồi, ốc nứa trong ruộng, trong ao nhất loạt nổi lên, tôi hỏi thì được biết chúng sợ nước lạ. Đưa chân xuống, lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận được nước của dòng sông Cái. Thế là cả lũ trẻ con chúng tôi đi vớt ốc. Ốc được gánh lên trên nhà tôi, đổ vào gốc chanh, gốc chuối rồi mang rơm phủ lên trên. Cậu tôi bảo: Chúng có thể cứ thế mà sống hàng năm trời. Rồi chuối xanh được chặt vô tội vạ. Không chặt chúng cũng bị nước làm cho thối hết. Năm đó cứ canh ốc chuối và các món về ốc mà chén. Có ngờ bây giờ ốc lại là món đặc sản trong các nhà hàng, mà chỉ là ốc nuôi công nghiệp như nuôi lợn, nuôi gà.

Ngày ấy ăn ốc nhiều quá, chán, mẹ tôi tiếc của làm món ốc chà. Cho đến tận bây giờ chưa được ăn lại và cũng không thấy ai nói đến ngay cả khi vào các nhà hàng chuyên ốc. Mẹ tôi chọn ốc, chỉ lấy ốc nứa (ốc nứa nhỏ hơn ốc nhồi và màu vỏ sáng hơn) với những con nào vỏ nhẵn bóng, mỏng đến nỗi nhìn rõ cả cái ngấn vàng óng sáp bên trong, vỉ ốc (cái vảy đậy miệng ống) đầy bằng vỏ. Mang ốc chặt bỏ phần đuôi (cứt ốc), lót lá gừng xuống đáy chõ rồi cứ một lượt ốc một lượt lá gừng tươi. Mang chõ ốc đồ như đồ xôi. Ốc chín, lấy g*i bưởi nhể ốc ra, chấm tương gừng cắt thêm vài lát tỏi ớt… Nếu ai hỏi ốc nhồi, ốc nứa là thế nào, tôi có thể trả lời được ngay (vì đó là khái niệm). Song, nếu ai hỏi, ốc chà là như thế nào, tôi chỉ có thể trả lời, ăn rồi khắc biết (vì đó chỉ là ý niệm - không duy danh định nghĩa được).

Cứ thế, nước sông Đà qua chỗ vỡ chảy vào sông Tích, thay vì mở cống Ba Xuân (thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây). Việc phân lũ này để cho Hà Nội - Trung tâm Kinh tế, Văn hóa, Chính trị của cả nước không bị thiệt hại. Thế là cả Xứ Đoài chìm trong biển nước. Và có lẽ qua lần vỡ đê Khê Thượng lịch sử ấy, một giải pháp kĩ thuật nữa ra đời. Cụ thể là trên địa bàn tỉnh Hà Tây cũ có hai điểm có thể xả lũ.

Phương án thứ nhất: Khi nước sông Hồng lên cao, cao đến mức đe dọa thành phố Hà Nội thì cống Ba Xuân thuộc địa bàn xã Xuân Phú, huyên Phúc Thọ (Hà Tây) sẽ được mở. Cống này được các kĩ sư Pháp thiết kế cách nay cả trăm năm. Đã trải qua vài lần sửa chữa nhưng đến nay vẫn là địa điểm không thể thay thế được. Cống Ba Xuân được mở khi đỉnh lũ đạt trên mười hai phảy tám mét tại Hà Nội. Với hai mươi sáu cống, mỗi cái rộng chín mét sẽ được nhấc cửa lên. Nước sông Hồng tràn vào “vùng đệm” là các xã Vân Cốc, Trung Châu, Hát Môn… Nước này được giới hạn bằng đê Quai Chè (hiện nay quốc lộ 32 nằm chồng lên). Rồi nước được lái vào đập tràn Phùng. Từ đây nước chảy vào sông Đáy về Quốc Oai, Chương Mỹ, xuôi về Mỹ Đức, Ứng Hòa về Hà Nam rồi đổ ra biển. Xả lũ công Ba Xuân, một phần ba tỉnh Hà Tây cũ sẽ chìm trong nước.

Phương án thứ hai: Nếu nước Sông Đà dâng cao sẽ xả lũ qua cống Chuốc. Cống này nằm trên địa điểm vỡ đê ngày xưa. Gọi là cống Chuốc nhưng hiện nay không có cái cống nào. Nghe nói trên chỗ đê được hàn khẩu ngày xưa đã khoan sẵn lỗ để đặt bộc phá. Tại đây có một đơn vị bộ đội đồn trú. Nếu được lệnh, họ sẽ khai khẩu bằng thuốc nổ. Nếu xả lũ tại đây thì sự thiệt hại sẽ nhỏ hơn xả lũ cống Ba Xuân. Việc ngập lụt chỉ xảy ra trong địa bàn Xứ Đoài, bởi sông Tích phát nguyên từ núi Tản, chảy qua địa bàn bốn mươi ba xã của huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, rồi đổ vào sông Bùi (tỉnh Hòa Bình). Chỗ ấy là ngã ba cầu Tân Trượng (huyện Chương Mỹ) bây giờ. Cây cầu này nằm trên quốc lộ 6.

Nghe nói “xả lũ”, hai từ này có vẻ nhẹ nhàng nhưng trên thực tế đó là tạo ra một vụ “vỡ đê chủ động”. Từ bấy đến nay, mấy chục năm chưa thấy có một vụ “vỡ đê chủ động” nào. Các cống xả lũ (hay còn gọi là phân lũ) là những công trình mà con người xây dựng rất khoa học và cực kì kiên cố nhưng có khi cả trăm năm mới sử dụng một lần. Riêng tôi, tôi lạy trời cho mưa thuận gió hòa nhưng trong sâu thẳm lòng mình vẫn phấp phỏng một nỗi lo. Sự biến đổi khí hậu đang diễn ra với quy mô toàn cầu và ngày càng trở nên bất trắc. Trong đời tôi đã một lần chứng kiến một vụ vỡ đê, tuy là nhỏ nhưng đó là một vết hằn trong tôi, và trong kí ức dân làng.

Năm ấy (1971) mất mùa lúa nhưng trời trả cho mùa tôm cá. Sang tháng mười trời đã hong hanh rét, nước sông Tích bắt đầu cạn thì cũng là vụ đánh cá thứ hai trong năm. Nghe tiếng hú, anh em tôi bỏ mặc tiếng gọi ời ời của mẹ phía sau, cùng với dân làng và dân trong vùng chúng tôi ra sông Tích. Chắc mẹ thừa biết trong huyết quản của những người đàn ông bao đời nay sống trên mảnh đất này, phía trước họ là… một dòng sông!

Năm ấy cá nhiều như… đất! Đàn ông và trai tráng chiều chiều kĩu kịt gánh cá ngoài sông về. Có những người “sát cá”, vợ con họ phải ra sông gánh cá chạy chuyến về nhà. Không đủ chỗ chứa, có nhà phải lấy cả cánh cửa ra chặn cống, chặn cổng rồi đổ cá ra sân. Suốt một tháng trời như thế, cá được mang ra phơi khô rồi xếp vào chum vại để dùng dần. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không thể nào quên được những tháng ngày ấy. Cứ sâm sẩm tối tôi đi ra bờ sông, đó là một thói quen. Tôi đi trong mùi thơm của cá kho, cá nướng. Tôi đi trong tiếng râm ran của trẻ nhỏ nhà ai đang sum vầy bên bếp lửa, trong bữa cơm chiều. Làng quê bình yên trong mỗi mái nhà với câu ngạn ngữ: “Cơm cày, cá kiếm”. Chỉ giản dị vậy thôi mà thấy thật ấm lòng mỗi khi nhớ làng, nhớ quê của người xa xứ.

Sau vụ cá trời trả cho vụ lúa. Nước lũ mang phù sa về. Nước lũ đã tảo thanh cánh đồng nên hễ đặt cây lúa xuống là được gặt. Đầu tháng mười đã tói mói có lúa chín sớm nên dân làng không ai bị đói. Tôi còn nhớ rất rõ đó là một đêm cuối tháng, trăng lên muộn nhưng càng khuya càng sáng. Tôi đi ra cầu Cam Lâm (qua cây cầu này mới vào được lăng Ngô Quyền và đền Phùng Hưng). Mẹ tôi bảo rằng đây là cây cầu đẹp nhất vùng. Cầu được xây cất theo lối “thượng gia, hạ kiều” (trên lợp mái ngói để bảo vệ phần cầu bằng gỗ). Cứ từ tháng tám trở đi là trai gái các làng tụ hội về đây hát trống quân. Chỉ có một sợi song mật (một loại dây leo) căng trên miệng một cái hố, dưới hố đổ vỏ ốc nứa, ốc nhồi (để cộng hưởng). Tiếng trống đã cầm nhịp cho bao nhiêu trai gái nên vợ nên chồng. Năm 1947, theo lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, cây cầu bị đốt cháy. Tôi nhìn xuôi theo dòng sông, không gian ba bên bốn bề yên tĩnh quá, chỉ còn lại ánh trăng trong vắt và tiếng hát giao duyên mượt mà trôi theo dòng sông trôi bồng bềnh trong kí ức tôi thủa thiếu thời. Sáng hôm sau từ biệt gia đình, từ biệt dòng sông chúng tôi đi với một nghĩa vụ thiêng liêng: “trai thời loạn”.

Từ bấy đến nay Xứ Đoài nói riêng và tỉnh Hà Tây cũ nói chung không bị một trận lụt nào nữa. Không phải là thời tiết ôn hòa hơn mà nguyên nhân chính từ con người. Sông Đà đã được mấy nhà máy thủy điện đầu nguồn điều tiết nước. Sông Tích có hai con đập. Đập Suối Hai thuộc huyện Ba Vì, đập Đông Mô, Ngải Sơn thuộc thị xã Sơn Tây. Hai con đập này khống chế toàn bộ lưu lượng nước từ núi Tản đổ về. Nhờ vào hai con đập này hàng triệu héc ta đất đai được tưới tiêu chủ động, cuộc sống ngày một ấm no…

Bao nhiêu năm xa làng nay lại có dịp về quê. Về quê, tôi về với dòng sông, một dòng sông nhỏ, nhỏ đến nỗi có thể nó không có tên trên bản đồ địa hình của đất nước. Song, dòng sông ấy vẫn rì rào chảy trong tôi mấy chục năm qua. Tôi đứng trước dòng sông về mùa cạn chỉ còn leo lét nước mà giật mình bởi ý nghĩ: Bao nhiêu con sông trên thế giới và trên đất nước này, ở một khía cạnh nào đó giờ đây chỉ còn như một… con mương thủy lợi! Biết bao nhiêu loài thủy tộc vì những con đập mà không thể sinh sôi, vì mất môi trường tự nhiên. Hội đánh cá rập sào làng tôi, vùng tôi không còn nữa bởi dòng sông không còn cá tôm và bị ô nhiễm nặng nề.

Song, tôi vẫn nhớ và mơ về tháng ba. Tháng ba, khi những tiếng sấm non ì ầm nơi chân trời vọng về làng, thì cũng là lúc những cơn mưa đầu mùa ở phía thượng nguồn mang lũ tới. Đó là ngày hội của các loài thủy tộc mừng nước. Từng đàn từng lớp không biết ở đâu mà cùng nhau lũ lượt xuôi dòng. Bao nhiêu đời nay tập tính đó như một lời ước hẹn mỗi khi mùa nước về. Trên khắp dòng sông ăm ắp một bản năng sinh tồn mà tạo hóa đã ban phát cho muôn loài, chan chứa một niềm hân hoan của sự sinh thành bắt đầu từ dòng sông cứ dâng lên rào rạt. Bài ca trầm hùng ấy có lẽ mọi thế hệ sau không còn thấy được âm hưởng nữa. Bởi, trước mặt làng khi chúng sinh ra đã… mất một dòng sông!

Theo: vannghequandoi.com.vn

18/03/2023

Bảo vệ tài nguyên nước ở Việt Nam - Cơ hội và thách thức

Nước là nguồn tài nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người, quyết định sự tồn vong của một quốc gia - dân tộc. Hiện nay, nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngày càng cao trong khi nguồn nước bị ô nhiễm, đòi hỏi ngành Tài nguyên - Môi trường và các địa phương cần tăng cường quản lý, giám sát và có những giải pháp thiết thực bảo vệ tài nguyên này vì sự phát triển bền vững của đất nước.

Kể từ đầu thế kỷ 20, lượng nước tiêu thụ toàn cầu tăng 7 lần, chủ yếu do sự gia tăng dân số và nhu cầu về nước của từng cá nhân. Cùng với sự gia tăng dân số và khát vọng cải thiện cuộc sống của mỗi quốc gia và của từng cá nhân thì nhu cầu về nước ngày càng gia tăng là điều tất yếu nên việc đảm bảo cấp nước đáp ứng về chất lượng cho toàn bộ dân số toàn cầu và bảo tồn các hệ sinh thái vẫn còn là một mục tiêu xa vời. Do sự biến đổi về nhiệt độ và lượng mưa, hiện nay nhiều nơi đã thường xuyên không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu. Vì thế, trong thế kỷ 21, thiếu nước sẽ là một vấn đề nghiêm trọng nhất trong các vấn đề về nước, đe doạ quá trình phát triển bền vững.

Tài nguyên nước dồi dào tiềm ẩn nhiều thách thức

Theo đánh giá của nhiều cơ quan nghiên cứu về tài nguyên nước, hiện tại có khoảng 1/3 số quốc gia trên thế giới bị thiếu nước và đến 2025 con số này sẽ là 2/3 với khoảng 35% dân số thế giới sẽ rơi vào tình cảnh thiếu nước nghiêm trọng. Ở một số quốc gia, lượng nước cho mỗi đầu người đang bị giảm đáng kể. Hội nghị về nước của Liên hợp quốc vào năm 1997 đã thống nhất “Tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, địa vị kinh tế, xã hội đều có quyền tiếp cận nước uống với số lượng và chất lượng đảm bảo cho các nhu cầu cơ bản của mình”, theo đó, tiếp cận với nước uống là quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, cho đến nay, số người thiếu nước uống sạch an toàn vẫn đang không ngừng gia tăng. Vì vậy, mối lo về nước không phải của riêng một quốc gia nào.

Việt Nam luôn khẳng định “nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước” và vì vậy, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực tăng cường và kiện toàn, thể chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước, đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia có chung nguồn nước với Việt Nam cũng như hợp tác và tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới và khu vực để quản lý, bảo vệ hiệu quả tài nguyên nước nhằm góp phần vào tiến trình phát triển bền vững của đất nước cũng như của thế giới và khu vực.

Theo thống kê, Việt Nam có hơn 3.450 sông, suối chiều dài từ 10km trở lên, tổng lượng dòng chảy hằng năm khoảng 844 tỷ mét khối nhưng chủ yếu tập trung vào mùa mưa, mùa khô chỉ chiếm 20-30% lưu lượng dòng chảy/năm. Nước có vai trò chủ đạo trong phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần đưa Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu gạo của thế giới. Theo thông tin của Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường), cùng với việc đáp ứng khoảng 70% nhu cầu sử dụng nước sạch tại các đô thị, trên 62% tại khu vực nông thôn, nước góp phần không nhỏ trong phát triển các ngành sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ và bảo đảm an ninh năng lượng trong thời gian qua...

Tuy nhiên, việc bảo vệ, giữ gìn, phát triển tài nguyên nước của Việt Nam chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức không hề nhỏ liên quan đến nguồn nước và chất lượng nguồn nước đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, nguồn lực cùng với sự nỗ lực tham gia của toàn xã hội, đặc biệt là ý chí chính trị và quyết tâm của Đảng và Nhà nước. Nguồn tài nguyên nước của chúng ta rất dồi dào song phân bố không đều theo thời gian và không gian, có tình trạng thiếu nước ngọt cục bộ, suy thoái, ô nhiễm nguồn nước ngày càng trầm trọng, khô hạn, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long ở mức độ sâu hơn, gay gắt hơn. Những thảm họa như: hạn hán và xâm nhập mặn; lũ ống, lũ quét, lụt lội, sạt lở đất; nước biển dâng đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động phát triển kinh tế, đến sức khỏe con người, đời sống sinh hoạt của cộng đồng.

Tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước vẫn tiếp tục gia tăng trong khi cơ chế kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, các hoạt động chặt phá rừng chưa hiệu quả cộng với tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước đang ngày càng rõ rệt hơn. Thời tiết cực đoan, thiên tai, nhất là nắng nóng, hạn hán, giông lốc, sạt lở, lũ lụt ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và xâm nhập mặn, ngập úng, nước biển dâng, thiếu nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long,… đang ngày càng gia tăng cả về mức độ nghiêm trọng và phạm vi ảnh hưởng, gây thiệt hại nặng nề, tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống. Vừa qua, lũ lụt ở miền Trung đã gây nhiều tổn thất về người và tài sản. Mặt khác, tài nguyên nước Việt Nam tuy phong phú, song phụ thuộc nặng nề vào nguồn cấp ngoài biên giới. Hơn 2/3 lượng nước trên các hệ thống sông của Việt Nam được hình thành từ ngoài lãnh thổ, trong khi cơ chế, chính sách hợp tác, chia sẻ nguồn nước giữa các quốc gia chưa hiệu quả.

Nước góp phần quan trọng trong sự tăng trưởng mạnh mẽ về sản lượng nuôi trồng thủy sản những năm gần đây với mức tăng trưởng bình quân trên 12%/năm, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước, tạo được nhiều cơ hội về việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế, xã hội, công cuộc xóa đói, giảm nghèo thì tài nguyên nước của Việt Nam đang phải đối mặt tình trạng sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả vẫn còn phổ biến cộng với nguồn nước tiếp tục bị suy thoái, cạn kiệt và cơ sở hạ tầng về tài nguyên nước lạc hậu.

Theo dự báo, dân số Việt Nam sẽ ổn định ở mức 120 triệu người trong vòng 2-3 thập kỷ tới . Sự gia tăng dân số và yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống sẽ cần nhiều nước hơn cho phát triển sản xuất và dân sinh là thách thức lớn nhất đối với sự phát triển và quản lý tài nguyên nước quốc gia.

Đảm bảo an ninh nguồn nước là góp phần phát triển bền vững

Chia sẻ về các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước tại hội thảo bảo đảm an ninh nguồn nước góp phần phát triển bền vững ở Việt Nam, đại diện Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ TN&MT), bà Lê Thị Việt Hoa cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật, chính sách quản lý tài nguyên nước; tập trung xây dựng và phê duyệt quy hoạch TNN quốc gia, quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản TNN; nâng cao trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương và ý thức của người dân trong việc giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN; hoàn thiện việc xây dựng hệ thống giám sát TNN, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc khai thác sử dụng nước; nghiên cứu đề xuất các phương án tăng cường khả năng trữ lũ, giữ nước ngọt với quy mô phù hợp với vùng…

PGS.TS. Nguyễn Hồng Tiến, Phó Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam cho rằng việc cấp nước an toàn góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu bệnh tật liên quan đến nước; nâng cao ý thức tiết kiệm của cộng đồng trong việc sử dụng nước, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Ngoài ra, cấp nước an toàn góp phần tiết kiệm nước, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Nhằm góp phần bảo đảm chất lượng nước sinh hoạt, bảo vệ môi trường, nâng cao sức khỏe nhân dân, từ khi thành lập đến nay, Hội Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Việt Nam đã làm tốt công tác, nhiệm vụ của mình, luôn là cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước với cộng đồng xã hội trong việc thực hiện tốt công tác xã hội hóa về cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hội đã huy động mọi nguồn lực, tăng cường công tác xã hội hoá, mọi tổ chức xã hội, mọi cá nhân, nhất là các Doanh nghiệp có lòng hảo tâm tham gia đóng góp bằng vật tư, nhân lực để cùng địa phương xây dựng công trình nước sinh hoạt phục vụ cho cộng đồng dân cư nhất là ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc, có nhiều khó khăn về địa lý, kinh tế xã hội. Kết quả là đã xây dựng được Trạm cấp nước tại trường Phổ thông trung học nội trú dành cho con em các dân tộc thiểu số tại xã Bình Yên, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên; xây dựng Trạm cấp nước sinh hoạt cho hơn 165 hộ gia đình đồng bào các dân tộc và các cơ quan, trường học tại xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên; Xây dựng trạm cấp nước sinh hoạt cho 4.767 nhân khẩu tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; Xây dựng công trình cải tạo, nâng cấp hệ thống nước sinh hoạt phục vụ hơn 1.000 người dân tộc Tày, Nùng, Dao vùng sâu đặc biệt khó khăn ở 3 thôn Nà Lình, Nà Liền và Nà Mèo xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn,…Cùng nhiều công trình cấp nước sinh hoạt khác tại huyện Na Rì (tỉnh Bắc Kạn), huyện Lệ Thuỷ (tỉnh Quảng Bình), huyện Triệu Hoá (tỉnh Quảng Trị) với số tiền tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước lên tới hàng tỷ đồng.

Ngoài ra, Hội còn phối kết hợp với các Bộ, ngành tham gia hoàn thành một số công việc khác như: Đề án truyền thông về nước sạch và vệ sinh môi trường dành cho người dân khu vực phía Bắc giai đoạn 2007 – 2010; In ấn và phát hành 02 ấn phẩm chuyên san “Môi trường và Cuộc sống”, “ Sổ tay truyền thông về nước sạch và bảo vệ môi trường” với số lượng hàng trăm cuốn sách; phát động gây Quỹ “Nước sạch đến với người nghèo”,….

PGS.TS. Nguyễn Hồng Tiến, Phó Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam đánh giá, việc cấp nước an toàn góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu bệnh tật liên quan đến nước; nâng cao ý thức tiết kiệm của cộng đồng trong việc sử dụng nước, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Ngoài ra, cấp nước an toàn góp phần tiết kiệm nước, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Nguồn: moitruong.net.vn

Want your organization to be the top-listed Non Profit Organization in Hanoi?
Click here to claim your Sponsored Listing.

Culinary Team

Attire

Telephone

Address


Suite 12A03, 24-T2 Tower, Hoang Dao Thuy Street, Cau Giay District
Hanoi
10000