Ẩm thực Chay Mandala

Ẩm thực Chay Mandala

Ẩm thực Chay Mandala - phong cách Tây Tạng, giá cả Việt

Nhà hàng Chay Mandala - phong cách Tây Tạng, giá cả Việt

745 Lạc Long Quân, P10, Quận Tân Bình, Hồ Chí Minh

Tháng 7 này các bạn sẽ ăn chay ở đâu đây...Mandala có chương trình hấp dẫn cho các thực khách. Chỉ với 99K với set menu 2 món chay Tây Tạng (1 món lẩu và 1 món khai vị + 2 ly chanh dây, tắc ép) dành cho 2 người. Các bạn nhanh tay mua ngay tại: http://www.hotdeal.vn/ho-chi-minh/an-uong/set-mon-chay-tay-tang-cho-2-3-nguoi-tai-nha-hang-mandala-174393.html

Mùa Vu Lan báo hiếu đã đến rồi, cùng Mandala tìm hiểu 9 ân đức của các đấng sinh thành ra chúng ta các bạn nhé...

1/ SINH - Người Mẹ phải khó nhọc cưu mang hơn chín tháng, chịu sự đau đớn trong lúc đẩy thai nhi ra khỏi lòng mẹ. Ơn sinh thành của Người lớn như trời như bể.
2/ CÚC - Nuôi dưỡng, nâng đỡ, chăm nom, săn sóc hài nhi cả vật chất lẫn tinh thần. Tình cảm rất tự nhiên nhưng gắn bó ân cần, nên khi Cha Mẹ nhìn con thêm hân hoan vui vẻ, bé nhìn Cha Mẹ càng mừng rỡ cười tươi.
3/ SÚC - Cho bú mớm, lo sữa nước cháo cơm, chuẩn bị áo xống ấm lạnh theo thời tiết mỗi mùa; trông cho con lần hồi biết cử động, điều hòa và nên vóc nên hình cân đối xinh đẹp.
4/ DỤC - Dạy dỗ con thơ động chân cất bước linh hoạt tự nhiên; biết chào kính người lớn, vui với bạn đồng hàng; tập con từ câu nói tiếng cười hồn nhiên vui vẻ. Khi trẻ lớn khôn thì khuyên răng dạy dỗ con chăm ngoan, để tiến bước trên đường đời. "Dạy con từ thuở còn thơ, Mong con lanh lợi, mẹ cha yên lòng"
5/ VŨ - Âu yếm, nâng niu, vuốt ve, bế ẵm ... để con trẻ vào đời trong tình cảm trìu mến thân thương.
6/ CỐ - Chăm nom, thương nhớ, đoái hoài, cố cập con trẻ từ tấm bé đến khi không lớn, lúc ở gần cũng như lúc đi xa : "Con đi đường xa cách Cha Mẹ bóng theo hình Ngày đêm không ngơi nghỉ Sớm tối dạ nào khuây"
7/ PHÚC - Giữ gìn, đùm bọc, che gió, chắn mưa, nhường khô, nằm ướt, hay Cha Mẹ quên mình chống đỡ những bạo lực bất cứ từ đầu đến, để bảo vệ cho con.
8/ PHỤC - Theo khả năng và tâm tính của trẻ mà uốn nắn, dạy dỗ, tìm phương pháp hướng dẫn trẻ vươn lên hợp tình đời lẽ đạo, tránh cho con bị lôi cuốn bởi tiền tài ảo vọng, vật chất và thị hiếu bên ngoài.
9/ TRƯỞNG - Lo lắng tận tình, đầu tư hợp lý, cho con học tập để chuẩn bị dấn thân với đời; cố vấn cho con nên vợ thành chồng xứng hợp với gia phong, thế đạo. Dù không cố chấp vấn đề "môn đăng hộ đối", nhưng vợ chồng so le về tuổi tác, trình độ, sức khỏe và khả năng thu hoạch tiền tài... cũng thiếu đi phần nào hạnh phúc lứa đôi, mà tuổi trẻ thường vì tiếng sét ái tình, làm lu mờ lý trí, khi tỉnh ngộ xem như chén nước đã đổ, khó mà lấy lại đủ!

Menu Ẩm Thực Chay MANDALA... Trân trọng kính mời!!!
"Chay Thuần Khiết - Thân An Lành - Tâm Thanh Tịnh"
Namo Amitàbha Buddha

Đầu tuần mới, cùng thưởng thức những món ăn đặc sắc và ngon tuyệt cùng với Mandala nhé các bạn ^^..

P/s : còn rất nhiều món lắm lắm, Mandala xin phép share lên sau nha. Mandala kính chúc các bạn bè thân hữu 1 tuần làm việc thật vui vẻ và nhiều thành công nhé!

Ý nghĩa của 6 chữ : Nam mô A di đà Phật | Phạn ngữ : Namo (नमो) Amitàbha (अमित) Buddha (बुद्ध).

Chữ Namas được chia làm hai nhóm có gốc từ động từ √nam (chữ devaganari √ नम् ), chữ namas nhóm một (chữ devaganari नमस्), dạng trung tính, có nghĩa : kính chào, tôn kính, ngưỡng mộ. Trên phương diện giới từ hay liên từ : chúc tụng, ca ngợi, tán tụng.

phat-di-da-dung-nhin-ben2
Namo (नमो) Amitàbha (अमित) Buddha (बुद्ध) (Nam mô A Di Đà Phật)

Động từ căn √nam (√ नम् √nam) có nghĩa : uốn cong, nghiêng xuống, chào, vinh danh, được uốn cong, tự quy phục, nhượng bộ.

Chữ namas nhóm hai (chữ devaganari नमस्), là thân động từ phản thân của namas nhóm một, có nghĩa : vinh danh, và khi làm trực bổ cách : làm danh dự, chào hỏi, kính trọng, ngưỡng mộ.

Chữ Namaste (chữ devaganari नमस्ते) là chữ ghép của : namas (नमस्) và te (ते), có nghĩa : tôi chào bạn, chào bạn, hân hạnh chào bạn.

Chữ namaskāra (chữ devaganariनमस्कार) là chữ ghép của namas nhóm một và thân từ -kāra (chữ devaganari कार : người ấy làm). Chữ namaskāra dùng để diễn đạt hành động của một người đang chào hay đang tôn kính ai đó, khi họ cuối đầu và nói chữ Namas.

Chữ namaskāram là câu chào có nghĩa : hân hạnh chào bạn.

Trong Phật học chữ : Namah (नम), Namas (नमस्), hay Namo có nghĩa là đem thân tâm về qui ngưỡng Phật, Pháp, Tăng.

A Di Đà là danh từ phiên âm có gốc từ hai chữ trong tiếng Phạn: amitābha và amitāyus.

Chữ amitābha là chữ ghép từ hai chữ : amita và ābha.

Chữ amita ghép từ hai chữ : amita [a-mita], thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, viết theo chữ devaganari : अमित. Thuật ngữ này mang nhiều nghĩa :

1 : không đo lường được, không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian, bao la, vô tận, vô bến bờ.

2 : qúa khứ phân từ của động từ [ am] am thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa là bị thương, bịnh

Chữ a, अ : biến cách riêng, phủ định, bên trong, số một

Chữ mita_1, nhóm một (chữ devaganari : मित) là quá khứ phân từ của động từ gốc √mā nhóm một (√ मा mā, chữ devaganari), thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa là : đo lường, giới hạn, hạn chế, vừa phải, dung hòa, khiêm tốn, ngắn, nhỏ.

Chữ mā, nhóm một, viết theo chữ devaganari मा, có nghĩa : người mẹ, ánh sáng, so sánh, đo, phục vụ, ghi dấu, không giới hạn.

Chữ mita_2, nhóm hai là qúa khứ phân từ của gốc động từ √mi (√मि, chữ devaganari), thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa là : thiết lập, bám lấy, dính vào, đo, không giới hạn, cảm nhận, phán đoán.

Chữ amita nhóm hai, là qúa khứ phân từ của động từ √am (√अम्, chữ devaganari : hướng tới, đi tới, làm đau, bị bịnh, gây bịnh), thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa là : thương tích, bịnh.

Chữ ābhā nhóm một (chữ devaganari : आभा) là chữ ghép từ hai chữ : [ā-bhā_1], có nghĩa là : chiếu sáng, soi sáng, gom lại, làm cho sáng lên, làm cho rạng rỡ lên, tôn trọng.

Chữ ābhā nhóm hai (chữ devaganari : आभा), thân từ thuộc nữ tính có nghĩa là : rực rỡ, sắc đẹp, hình dáng, màu sắc.

Chữ ā (chữ devaganari : आ), có nhiều chức vụ dùng khác nhau :

1) Tiền tố âm : tới, hướng tới (người nói).

2) Giới từ : từ khi.

3) Trạng cách : đến khi, ngay khi, xa hơn nữa.

4) Liên từ : nhiều hơn, ngay cả.

Chữ động từ gốc √bhā nhóm một (chữ devaganari : √ भा), có nghĩa : tỏa sáng, tỏa sự huy hoàng, xuất hiện, sẽ được thấy, làm vui lòng.

Chữ āyus (chữ devaganari : आयुस्), có gốc từ chữ āyu (chữ devaganari : आयु), thân từ thuộc trung tính, có nghĩa : tuổi tác, tuổi thọ, cuộc sống, sức khỏe, sức sống.

Qua phần phân tích trong Phạn ngữ : A Di Đà là danh từ phiên âm có gốc từ hai chữ amitābha và amitāyus. Amitàbha, tức là ánh sáng vô lượng và Amitāyus là sự sống không giới hạn bởi không gian và thời gian. Do đó Amitàbha hay Amitàyus, 2 từ khác nhau và không cùng nghĩa nhưng đều chỉ cho Đức Phật A di đà. Từ đó, sự ra đời của những bài lược sử nói về Đức A Di Đà có những góc độ và khía cạnh khác nhau, tùy theo mỗi thời kỳ lịch sử.

Chữ Phật, phạn ngữ viết theo mẫu tự la tinh là Buddha, chữ devaganari viết बुद्ध. Chữ Buddha là quá khứ phân từ của chữ budh nhóm một, thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : tỉnh thức, sáng suốt, thông thái, khôn ngoan.

Động từ căn √budh nhóm một (√बुध्), có nghĩa : tự đánh thức, tự tỉnh thức, xem, tìm hiểu, khám phá, nhận thức, cảm nhận, hiểu biết, hiểu, quan sát, suy nghĩ, tập trung, khơi dậy, phục hồi, làm cho hiểu, nhớ, tiết lộ, thông báo, thông tin, tư vấn, khuyên bảo, suy nghĩ đứng đắn, cố gắng tìm hiểu.

Chữ budh nhóm hai, có gốc từ chữ budh nhóm một, thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : người tự tỉnh thức, người hiểu biết, thông minh, sáng suốt, khôn ngoan.

Chữ buddhi (बुद्धि) có gốc từ chữ budh nhóm một và thân từ -ti (ति hình thể hoạt động, thuộc nữ tính), có nghĩa : tinh thần, thông minh, khả năng nhận thức, hiểu biết, trí tuệ, nghĩ, ý tưởng, giải quyết.

Phần tóm lược ý nghĩa của 6 chữ : Nam mô A di đà Phật

Qua phần định nghĩa của Phạn ngữ : Namah (नम), Namas (नमस्), hay Namo (नमो) Amitàbha (अमित) Buddha (बुद्ध).

Từ Namah (नम), Namas (नमस्), hay Namo (नमो) có nghĩa là đem thân tâm về quy ngưỡng…

Amitàbha (अमित) là danh hiệu của Đức Phật A di đà.

Buddha (बुद्ध) là người hoàn toàn tỉnh thức.

Như vậy : Namo (नमो) Amitàbha (अमित) Buddha (बुद्ध), có nghĩa là : Đem thân tâm qui ngưỡng Đức Phật A di đà.

Người con Phật thường dùng câu niệm Phật này để chào nhau, tuy là một câu có 6 chữ ngắn gọn, nhưng nó hàm chứa một tính lễ độ và một sự nhắc nhở cho nhau để thánh hóa tâm hồn mình, qua Hồng danh của Đức Phật A Di Đà.

Niệm A di đà là một cách tu, nhanh chóng, dễ dàng, dựa vào tha lực, và đại nguyện của Đức Phật A di đà, bằng cách nhất tâm niệm danh hiệu của Ngài : “Nam-mô A-di-đà Phật”, để trau dồi đức hạnh và xoa dịu những khổ đau cho mình và những người chung quanh trong cuộc sống mỗi ngày.

Phương pháp tu đơn giản này cũng là phương tiện hữu hiệu giúp cho sự tự lực của chính mình thoát khỏi những hố sâu của tội lỗi.

Về thân tộc hay ngày sinh của Đức Phật A di đà trong những tài liệu tham khảo không có đầy đủ chi tiết ghi lại rõ ràng, chỉ có những truyền thuyết khác nhau như một câu chuyện với nội dung diễn đạt tình đại bi chan hoà, ánh sáng trí tuệ, qua sự tỏ bày của Ngài trong 48 điều nguyện, mà các kinh : Bi Hoa, Quán Phật Tam Muội Hải, Diệu Pháp Liên Hoa (phẩm Thí Dụ), Thủ Lăng Nghiêm, Niết Bàn, Hoa Nghiêm, Xuất Sinh Bồ-tát, kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ, v.v…đều có ghi lại như một phần Tiểu sử của Ngài.

Đức Phật A Di Đà và cõi Tây phương Tịnh độ của Ngài có thật hay chỉ là huyền thoại biểu trưng cho : “Niềm tin là mẹ sanh công đức” theo Kinh Hoa Nghiêm, thì pháp môn niệm Phật cũng đã góp phần đem lại ít, nhiều lợi ích cho người con Phật.

Sự phát bồ đề tâm, bằng tín nguyện chính tâm tỉnh giác, tìm lại đức Phật A Di Đà trong chính mình qua cách niệm 6 chữ : Nam mô A Di Đà Phật, để cho tấm lòng an tịnh cũng không phải là lỗi gì, trong những hành động thường ngày như : đi, đứng, ngồi, nằm, nghỉ…

Ý nghĩa Mandala trong Mật tông

Mandala có nguồn gốc từ “ Manda” có nghĩa là “ tinh tuý” và hậu tố “la” sau này được thêm vào đúng nghĩa là “ chứa đựng”. Từ đó Mandala được giải thích rõ ràng là “ chứa đựng tinh tuý”. Hình ảnh Mandala biểu trưng cho thân và tâm của Đức Phật.
Trong đạo Phật bí truyền, nguyên lý về mandala là sự hiển diện của đức Phật trong mình nhưng không nhất thiết có sự hiểu diện của những hóa thần. Những hóa thần có thể được biểu trưng là một bánh xe, cây cối hoặc một đồ trang sức hay bất kỳ hiện thân mang tính tượng trưng khác.

Sự hình thành :

Mandala ban đầu chỉ là 1 dấu chấm, nó đại diện cho sự vô hạn. Nó có nghĩa là 1 hạt giống, là điểm bắt đầu quan trọng nhất. Tâm điểm này đã thu hút tất cả năng lượng của vũ trụ bên ngoài, và trong vai trò là lực hút, năng lượng của người tín tâm được khai mở và cũng được hút vào trong đó. Vì vậy, Mandala là biểu trưng của tất cả không gian vũ trụ bên ngoài và bên trong. Mục đích là loại bỏ sự ngăn cách giữa vật thể và chủ thể.

Khi tạo nên Mandala , một đường thẳng sẽ xuất hiện từ tâm sau đó lần lượt các đường thẳng khác xuất hiện cho đến khi chúng giao nhau tạo thành các hình tam giác. Hình tròn bao ngoài biểu trưng cho ý thức đầy xung lực của sự khởi đầu, hình vuông biểu trưng cho thế giới vật chất hướng ra bốn phương, ngoài ra còn có ý nghĩa là 4 cánh cổng. Khu vực trung tâm là nơi an trụ của hoá thần. Trung tâm Mandala được coi là sự tinh tuý, và đường tròn được coi là sự bảo trì. Bởi vậy 1 bức tranh Mandala hoàn chỉnh có nghĩa là bảo trì sự tinh tuý.

Sự xây dựng :

Trước khi một vị tăng được phép đảm nhận công việc kiến lập mandala, vị sư đó phải trải qua một thời gian dài được đào tạo kỹ năng về nghệ thuật và khả năng ghi nhớ, học cách vẽ tất cả các loại biểu tượng khác nhau và nghiên cứu những tư tưởng triết học có liên quan. Ví dụ, tại tự viện Namgyal thì thời gian này kéo dài đến ba năm. Ở những giai đoạn đầu tiên, những vị tăng phải ngồi ở phần ngoài của chiếc Mandala cơ bản chưa được phủ sơn, phải luôn hướng mặt vào trung tâm Mandala.

Đối với những Mandala cỡ lớn, khi những vị sư vẽ được một nửa, họ phải đứng trên sàn nhà và cúi người xuống để rắc màu.

Theo truyền thống thì một Mandala được phân chia thành bốn phần bằng nhau và mỗi vị sư chịu trách nhiệm một phần. Tại nơi những vị tăng đứng để rắc màu, một người phụ việc sẽ nối bốn phần lại với nhau. Những người phụ việc này làm việc mang tính hợp tác sẽ giúp bốn vị sư rắc màu vào bốn phần trong khi bốn vị sư phác những chi tiết khác.

Những vị sư sẽ nhớ lại tất cả những chi tiết của một mandala giống như phần trong chương trình đào tạo tại tự viện của họ. Một điều rất quan trọng phải nhớ là một mandala hoàn toàn dựa chính xác vào kinh điển. Khi kết thúc mỗi phần công việc, chư tăng hồi hướng bất cứ công đức tâm linh hoặc nghệ thuật được tích lũy được từ công việc này vì lợi ích của hết thảy hữu tình.

Sự thực hành này được thực hiện trong tất cả những tác phẩm nghệ thuật tâm linh. Một lý do chính chư tăng tập trung cực kỳ cao độ vào công việc bởi họ thực sự đang truyền đạt giáo lý của đức Phật. Mandala chứa đựng những lời giáo huấn của đức Phật để chứng đại giải thoát giác ngộ, động cơ thanh tịnh và sự hoàn hảo trong tác phẩm của họ tạo duyên cho những người chiêm ngưỡng được lợi ích cao nhất.

Mỗi chi tiết trong 4 phần Mandala đều hướng mặt về trung tâm, vì thế mỗi chi tiết đó đều hướng mặt về nơi Bản Tôn an trụ trong Mandala. Sự phối cảnh của Chư Tăng và những người chiêm ngưỡng đứng xung quanh Mandala thì những chi tiết ở phần gần nhất với người chiêm ngưỡng dường như bị đảo ngược, trong khi đó những chi tiết trong phần xa nhất thì đúng chiều.

Nói chung mỗi vị Tăng chịu trách nhiệm phần của mình trong khi sơn rắc các phần cung điện vuông. Khi sơn những đường tròn đồng tâm, thì họ phải lần lượt chuyển động xung quanh Mandala. Họ đợi cho toàn bộ giai đoạn hoàn thành trước khi cùng nhau di chuyển ra ngoài.

Điều này đảm bảo cho sự cân bằng được duy trì và cả bốn phần của Mandala đều được hoàn tất cùng một lúc. Việc chuẩn bị để kiến lập một Mandala là sự nỗ lực về nghệ thuật nhưng đồng thời nó cũng là một hành động đầy tôn kính. Trong sự tôn kính này, những tư tưởng và sắc tướng được kiến lập, trong đó những trực giác sâu sắc nhất sẽ được biểu đạt là nghệ thuật tâm linh. Việc kiến lập Mandala thường được thiền định là một chuỗi trải nghiệm không gian mà tinh túy của nó có trước sự tồn tại, điều này có nghĩa là tư tưởng có trước sắc tướng.

Ở dạng phổ biến nhất, Mandala chính là hàng loạt vòng tròn đồng tâm. Mỗi Mandala đều có một Bản Tôn hóa thần riêng an trụ trong cấu trúc hình vuông được đặt đồng tâm bên trong những vòng tròn này.

Hình vuông hoàn hảo của Mandala chỉ ra rằng không gian tuyệt đối của trí tuệ vốn không si ám. Cấu trúc hình vuông này có 4 cổng được vẽ rất tỷ mỷ biểu trưng cho sự hội tụ của Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả). Mỗi chiếc cổng được trang hoàng bằng những chiếc chuông, tràng hoa và các chi tiết trang trí khá.

Hình vuông này xác định kiến trúc của Mandala được miêu tả là một cung điện hoặc một ngôi chùa có bốn mặt. Là một cung điện bởi vì nó là nơi an trụ của các Bản Tôn chính trong Mandala, còn là một ngôi chùa bởi chứa đựng tinh túy của Đức Phật Hàng loạt những đường tròn bao quanh cung điện trung tâm theo một cấu trúc mang tính biểu tượng mạnh mẽ.

Bắt đầu với những vòng tròn bên ngoài, bạn sẽ nhận thấy một vành lửa, thường được mô tả là một hình trang trí có đường cuộn độc đáo.

Vành lửa biểu trưng cho quá trình chuyển hóa mà những phàm tình chúng sinh phải trải qua trước khi nhập vào miền Tịnh Độ linh thiêng bên trong. Kế đến là một vòng Quyền Trượng Kim Cương, chỉ ra sự không thể phá hủy và kim cương giống như sự huy hoàng rực rỡ của các cảnh giới tâm linh của mandala.

Trong đường tròn đồng tâm kế tiếp, đặc biệt là những mandala đặc trưng của những Bản Tôn phẫn nộ, bạn có thể nhìn thấy tám nghĩa địa được sắp xếp trên một băng rộng. Tám nghĩa địa này biểu trưng cho tám yếu tố của thức loài người trói buộc họ vào thế giới hiện tượng và vòng sinh tử. Sau cùng, tại trung tâm của mandala là tọa vị của Bản Tôn, nhìn vào trung tâm Bản Tôn của mandala thì sẽ biết được thuộc mandala nào. Người ta cho rằng mandala có được quyền lực này là do chính Bản Tôn trong mandala.

Sự phân loại :

Một cách chung nhất là Bản Tôn trung tâm có thể là một trong ba loại dưới đây:

Bản Tôn Hiền Hòa :

Một Bản Tôn hiền hòa biểu trưng cho sự tiếp cận tâm linh và tồn tại đặc biệt riêng của mình. Ví dụ, một hình ảnh Bồ Tát hay (Quán Thế Âm Bồ Tát) biểu trưng cho lòng từ là trọng tâm của trải nghiệm tâm linh; Bồ Tát Văn Thù thì lấy trí tuệ làm trọng tâm và Đức Kim Cương Thủ lại nhấn mạnh tới lòng dũng cảm và trí lực để tìm cầu trí tuệ thiêng liêng.


Bản Tôn phẫn nộ:

Những Bản Tôn phẫn nộ biểu trưng sự đấu tranh mạnh mẽ để vượt qua sự xa lánh ghét bỏ trong mỗi người. Bản Tôn là hiện thân của tất cả phiền não bên trong làm đen tối những tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta và ngăn cản chúng ta đạt đến mục đích của đạo Phật là sự toàn giác.

Theo truyền thống thì những Bản Tôn phẫn nộ được hiểu là những khía cạnh của nguyên lý Từ Bi, chỉ đáng sợ đối với những người thấy họ như những thế lực bên ngoài. Khi nhận ra được những khía cạnh của tự thân và được thuần dưỡng với sự thực hành tâm linh thì họ nhận ra pháp tướng bên ngoài của các vị hóa thần này rất thanh tịnh và từ bi.


Bản Tôn tình ái :

Hình ảnh tình ái cho thấy quá trình tích hợp nằm ở trung tâm của Mandala. Nguyên tố nam nữ là không có gì, nhưng biểu tượng của vô số các cặp từ trái nghĩa (ví dụ như tình yêu và ghét, tốt và xấu, v.v.) là một trong những kinh nghiệm về sự tồn tại trần tục. Việc bắt đầu tìm cách ngăn chặn sự tha hóa của mình hoặc người kia, bằng cách chấp nhận và thưởng thức tất cả mọi thứ như một liền mạch, nối liền với nhau lĩnh vực kinh nghiệm. Hình ảnh tình ái cũng có thể được hiểu là một phép ẩn dụ cho sự giác ngộ, sự hài lòng, hạnh phúc, thống nhất, hoàn thiện.

Màu sắc :

Nếu hình thể là cốt yếu của mandala thì màu sắc cũng như vậy. Bốn phần của cung điện mandala được phân chia điển hình theo những hình tam giác cân của màu sắc, bao gồm bốn phần của 5 màu:

- Màu trắng,

- Vàng,

- Đỏ,

- Xanh lục,

- Xanh sẫm.

Mỗi màu này đều có liên quan tới một trong năm đức Phật siêu việt, thêm nữa chúng cũng có liên quan tới năm ảo tưởng của bản chất con người. Những ảo tưởng này che chướng bản chất chân thật của chúng ta, nhưng thông qua việc thực hành tâm linh, chúng có thể chuyển hóa thành năm trí tuệ tương ứng với năm đức Phật siêu việt, cụ thể là:

* Màu trắng – Vairocana (Đức Tỳ Lư Giá Na Phật): Ảo tưởng của vô minh trở thành Pháp giới thể tính trí.

* Màu vàng - Ratnasambhava (Bảo sinh Phật): Ảo tưởng của ngã mạn chuyển thành Bình đẳng tính trí.

* Màu đỏ - Đức Adi đà: Si mê của chấp thủ trở thành diệu quan sát trí

* Màu xanh lục - (Bất Không thành tựu Phật): Si mê đố kỵ trở thành Thành sở tác trí.

* Màu xanh sẫm - (Đức Asuc Bệ): Si mê của sân giận trở thành Đại viên kính trí Mandala

là phẩm vật cúng dường thiêng liêng

Vật hiến tế thần thánh :

Bên cạnh việc trang trí và làm cho những ngôi chùa, và nơi ở trở nên thiêng liêng, đời sống sinh hoạt của người Tây Tạng, theo truyền thống mandala được cúng dường tới các bậc Thầy khi thỉnh cầu các bậc Thầy truyền trao giáo Pháp hay quán đỉnh - họ dùng mandala để biểu trưng cho toàn bộ vũ trụ, bày tỏ lòng tri ân cao nhất đối với giáo pháp tôn quý.

Một lần trong khung cảnh hoang sơ của Ấn Độ, Đại Thành Tựu Giả Tilopa đã yêu cầu Naropa cúng dường mandala. Lúc bấy giờ ở đó không có sẵn chất liệu để kiến lập một mandala nên Naropa đã đi tiểu vào cát và tạo thành một mandala bằng cát ướt để làm phẩm vật cúng dường lên bậc Thầy của mình. Trong một dịp khác, Đức Naropa đã dùng máu, đầu và các chi của mình để tạo một mandala cúng dường. Bậc Thầy của Ngài đã hoan hỷ.

Kết luận:

Kết luận sự quán tưởng và cụ thể hóa khái niệm mandala là một trong những đóng góp có ý nghĩa nhất của Đạo Phật đối với tâm lý học tôn giáo. Mandala được coi là nơi linh thiêng, bằng chính sự hiển diện của mandala trên thế giới này đã nhắc nhở người chiêm ngưỡng về nội tại của tính thiêng liêng trong vũ trụ và tiềm năng của nó trong bản thân mỗi người.

Trong Đạo Phật mục đích của mandala là chấm dứt sự đau khổ của con người, để thành tựu giác ngộ, để đạt được chính kiến về Thực Tại. Mandala là một phương tiện để khám phá ra phẩm chất siêu việt thông qua sự chứng ngộ Mandala nơi tự tâm của mỗi người.

Nếu có một dịp được chứng kiến cảnh các vị sư Tây Tạng thực hiện đồ hình Mạn-đà-la (Anh: mandala, Phạn: maṇḍala, Tây Tạng: dkyil 'khor, Hoa: 曼荼羅) thì chắc hẳn bạn sẽ không bao giờ quên được ấn tượng vô cùng đặc sắc lưu lại trong kí ức. Mạn-đà-la không phải chỉ mang tính hình tượng hóa của một phương tiện tu học thiện xảo mà còn là một nghệ thuật có một không hai. Nghệ thuật này đòi hỏi công phu kết hợp làm việc cùng nhau của một nhóm người thật sự tập trung tinh thần trong một thời gian nhiều ngày sử dụng các công cụ thô sơ đặc trưng.

Theo ý kiến từ tự viện Namyal, là bản tự riêng của đức Đạt-lai Lạt-ma, thì các Phật tử tin rằng chỉ cần chiêm bái mandala cũng đủ làm chuyển hóa dòng tâm thức của cá nhân thông qua các ấn tượng mạnh mẽ về nét đẹp tuyệt hảo của tâm thức Phật được biểu thị trong mandala. Hậu quả là người chiêm bái có thể có được lòng từ bi tỉnh thức lớn hơn, và một ý nghĩa tốt đẹp hơn về trạng thái toàn thiện.

Want your business to be the top-listed Restaurant in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Services

Catering

Specialties

Breakfast Dinner Drinks Lunch

Price Range

$$

Telephone

Address


745 Lạc Long Quân P.10 Q.Tân Bình
Ho Chi Minh City
+8

Opening Hours

Monday 08:00 - 22:00
Tuesday 08:00 - 22:00
Wednesday 08:00 - 22:00
Thursday 08:00 - 22:00
Friday 08:00 - 22:00
Saturday 08:00 - 22:00
Sunday 08:00 - 22:00
Other Vietnamese Restaurants in Ho Chi Minh City (show all)
Cửa Euro Việt Cửa Euro Việt
162 Nguyễn Thị Tú, Phường Bình Hưng Hòa B, Quận Bình Tân
Ho Chi Minh City

Địa chỉ: 162 Nguyễn Thị Tú, Phường Bình Hưng Hòa B, Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Art Bia Tô, 61-63 trần não , quận 2, HCM Art Bia Tô, 61-63 trần não , quận 2, HCM
61-63 Trần Não, Quận 2, HCM
Ho Chi Minh City, 700000

Nơi bạn cần sẻ chia

Vitamim - Thuốc Bổ - Mỹ Phẩm Vitamim - Thuốc Bổ - Mỹ Phẩm
15B Nguyen Luong Bang F Phu My Q7
Ho Chi Minh City, 700000

Nhà Hàng Đặc Sản Trâu Nướng Nhà Hàng Đặc Sản Trâu Nướng
H4 Bạch Mã, P15, Q10
Ho Chi Minh City, 70000

Giữa vô vàn những nhà hàng, quán ăn trên khu vực TPHCM , Nhà Hàng Đặc Sản Trâu Nướng của chúng tôi vẫn được rất nhiều thực khách biết tới và dành tình cảm yêu mến .

Nhà Hàng Chay Yêu Thương Nhà Hàng Chay Yêu Thương
174/4 Le Lai Q1
Ho Chi Minh City, +84

Bánh Canh Gia Lai Bánh Canh Gia Lai
495/8/11 Tô Hiến Thành, Quận 10
Ho Chi Minh City

An an An an
11 Nam Quốc Cang
Ho Chi Minh City

An an rất vui khi chào đón các bạn đến với ngôi nhà chung tại địa chỉ 11 Nam Quốc Cang, Q.1

Bơ sáp daklak Bơ sáp daklak
Km22-qlo26-krongpak-daklak
Ho Chi Minh City

Bít tết MỘC Bít tết MỘC
Đường Số 10, Dĩ An
Ho Chi Minh City, 0650

Bò bít tết, bò né, bò lúc lắc, cơm bò, cơm gà, nui, mì, quán ăn, ăn uống

Ẩm Thực O2 Ẩm Thực O2
486 Lý Thái Tổ-bến Cam-phước Thiền-tphcm
Ho Chi Minh City

Ẩm Thực O2

Quán Chay Pháp Uyển Quán Chay Pháp Uyển
17/4 Nguyễn Huy Tưởng, Phường 6, Quận Bình Thạnh
Ho Chi Minh City, 700000

Dharma Garden Veggie Restaurant

Bún chả Thăng Long Bún chả Thăng Long
76F Phạm Viết Chánh, Phường 19, Quận Bình Thạnh
Ho Chi Minh City, 7000

Bún chả Thăng Long - món ngon Hà Nội là món ăn tinh túy, mang cái hồn, cốt cách thanh tao mặc khách của người Hà Nội.