MTV Books

MTV Books

Góc nhìn sử Việt...

Góc nhìn sử Việt...

ĐỒN ĐIỀN CỦA NGƯỜI PHÁP Ở BẮC KỲ 1884-1918
Tác giả TẠ THỊ THÚY

Sách đã được in năm 1996 NXB TG cấp phép, và in 2009 ở Pháp. Vậy 2020 có gì hơn? Xin bật mí nhỏ là sách được tái bản và tác giả Tạ Thị Thúy có viết bổ sung thêm.

Sách có bìa cứng và bìa mềm
Giá cập nhật sau.

BÌNH ĐỊNH DANH THẮNG VÀ DI TÍCH
Tác giả: Vũ Minh Giang
Bìa mềm
NXB Hồng Đức
278 trang
Bìa 145k
Bán 130k

Tỉnh Bình Định có 234 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có hơn 60 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh. Tuy nhiên, trước mắt Cổng Thông tin điện tử UBND tỉnh Bình Định xin giới thiệu một số Di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu.
Bình Định được xác nhận là một trong 3 trung tâm của văn hóa Sa Huỳnh với một hệ thống di chỉ phân bố khá dày đã được các nhà khảo cổ phát hiện, đào thám sát và khai quật như: Động Cườm, Gò Tháp, Ca Công, Động Bàu Năng, Phú Nhuận, Công Lương (Hoài Nhơn), Truông xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch (Phù Mỹ), Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp (Quy Nhơn).
Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa nổi tiếng trong thời tiền sử và sơ sử Việt Nam, được đặt tên theo khu di tích mộ chum Sa Huỳnh (Đức Phổ, Quảng Ngãi) do M. Vinet phát hiện năm 1909, và chính thức định danh Văn hóa Sa Huỳnh vào năm 1937.Trên dải đất Việt Nam ngày nay, vào thời đại kim khí (cách ngày nay 3000-4000 năm) đã từng tồn tại 3 trung tâm văn hóa lớn: văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc, văn hóa Óc Eo ở miền Nam và văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung. Không gian văn hóa Sa Huỳnh phân bố khá rộng từ Quảng Bình đến Đồng Nai và Tây Nguyên. Trong cảnh quan văn hóa chung rộng ấy, địa bàn Quảng Nam – Quảng Ngãi – Bình Định không những có số lượng di tích nhiều nhất mà còn có mật độ phân bố khá dày. Ba vùng có mật độ di tích cao nhất là vùng thềm phù sa có con sông Vu Gia, Tiên Hà, Thu Bồn; vùng cồn cát ven biển, gần sông Vĩnh Điện - Tam Kỳ - Vĩnh An và vùng cồn cát ven biển, gần bàu nước La Vận - Bàu Năng - Trà Ổ - Thị Nại (Quy Nhơn).
Những dấu vết văn hóa của cư dân cổ Sa Huỳnh trên đất Quy Nhơn được phát hiện khá muộn qua các cuộc điều tra, khảo sát và đào thám sát từ năm 1978, đã hé mở cho thấy cả bề dày và bề rộng của không gian lịch sử - văn hóa Bình Định nói chung và Quy Nhơn nói riêng.

Sài Gòn-Chợ Lớn “phố cho mướn”, “nhà cho mướn”

Sài Gòn trong cơn khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933

NHÂN HỌC ĐỐI DIỆN VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI
Tác giả: Claude Lévi-Strauss
Dịch giả: Nguyễn Thị Hiệp

Giới thiệu về tác giả cho các bạn đọc phổ thông có thể chưa biết danh tiếng học thuật của Claude Lévi-Strauss:

Claude Lévi-Strauss sinh ngày 28 tháng 11 năm 1908 ở Bruxelles (Bỉ). Ông giữ chức Giáo sư về Nhân học xã hội thuộc Collège de France từ năm 1959 đến năm 1982 (Collège de France là Viện Nghiên cứu và giảng dạy cao cấp nhất của Pháp, chỉ đứng sau Viện Hàn lâm. Thường mỗi chuyên ngành chỉ có một ghế duy nhất dành cho một nhà nghiên cứu đầu ngành trong cả nước) và đã được bầu làm Viện sĩ viện Hàn lâm Pháp năm 1973. Ông từ trần tại Paris vào ngày 30 tháng 10 năm 2009.

Thư mục chọn lọc các công trình của ông (một số đã được xuất bản ở Việt Nam):

La Vie familiale et sociale des Indiens Nambikwara (Đời sống gia đình và xã hội của người Anh-Điêng Nambikwara), Paris, Société des Américanistes, 1948.
Les structures élémentaires de la parenté (Cấu trúc cơ bản của quan hệ thân tộc), Paris, PUF, 1949; La Haye-Paris, Mouton & Cie
Race et histoire (Chủng tộc và lịch sử), Paris, Unesco, 1952; Paris, Denoël, 1967; Paris, Gallimard, “Folio Essai”, n°104.
Tristes Tropiques (Nhiệt đới buồn), Paris, Plon, 1955; Pocket, “Terre humaines” (Địa nhân), n°3009.
Anthropologie structurale (Nhân học cấu trúc), Paris, Plon, 1958; Pocket, “Agora”, n°7 và n°189, 2 vol.
Le totémisme aujourd’hui (Định chế tô tem hiện nay), Paris, PUF, 1962.
La pensée sauvage (Tư duy hoang dã), Paris, Plon, 1958; Pocket, “Agora”, n°2.
Mythologies (Huyền thoại học); 1. Le cru et le cuit (Cái sống và cái chín), 1964; 2. Du miel aux cendres (Từ mật ong đến tro tàn), 1967; 3. L’Origine des manières de table (Nguồn gốc của những cách thức ăn uống), 1968; 4. L’Home nu (Con người trần truồng), 1971, Paris, Plon.
Anthropologie structurale II (Nhân học cấu trúc II), Paris, Plon, 1973.
La Voie des masques (Con đường của mặt nạ), Genève, Editions Albert Skira, 2 vol., 1975; éd. Revue, augmentée et suivie de Trois excusions (chỉnh sửa, bổ sung và in thêm Ba chuyến du ngoạn), Paris, Plon 1979; Pocket, “Agora”, n°25.
Regard éloigné (Nhìn từ xa), Paris, Plon, 1983.
Paroles données (Những lời đã nói), Paris, Plon, 1984.
La Potière jalouse (Bà làm gốm ghen ghét), Paris, Plon, 1985; Pocket, “Agora”, n°28.
Histoire de Lynx (Chuyện Mèo Rừng), Paris, Plon, 1991; Pocket, “Agora”, n°156.
Regarder écouter lire (Nhìn nghe dọc), Paris, Plon, 1993.
Œuvres (Tác phẩm), Paris, Gallimard, “La Bibliothèque de la Pléiade” (Thư viện Pléiade), 2008.

NGHIÊN CỨU BẢN ĐỒ CÁC CỬA SÔNG, HẢI CẢNG VIỆT NAM THẾ KỶ XV

Tác giả: Gustave Dumoutier
Dịch giả: Nguyễn Văn Trường
Dự kiến phát hành: 03/2020

Cùng với “Tiểu luận về dân Bắc kì”, chúng tôi đồng thời cho ra mắt một công trình giá trị khác của Gustave Dumoutier, bổ sung cho mảng địa lí lịch sử còn hoang vu ở Việt Nam, đáng giá cho giới nghiên cứu sử học, khảo cổ, môi trường... cũng như cho người đọc phổ thông thấy được câu chuyện thương hải tang điền của quốc gia qua hàng thế kỉ đã diễn ra như thế nào.

Cuốn sách được anh Nguyễn Văn Trường thủ thư của EFEO Hà Nội dịch. Quãng năm 2015 trong một dịp đến thư viện EFEO, tôi gặp anh và đã trò chuyện về tập bản thảo này. Cuối cùng sau ngần ấy năm, tâm huyết của Dumoutier cùng anh Trường sẽ đến được với bạn đọc trong tháng 3 này. Sau đây tôi tóm lược một số đoạn trong bài giới thiệu của anh Nguyễn Văn Trường cho cuốn sách:

Công trình “Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV” (nguyên tác: Étude sur un Portulan annamite du XV siècle) của học giả người Pháp Gustave Dumoutier viết bằng tiếng Pháp, thực hiện xong tháng 8 năm 1895. Toàn bộ công trình đăng tải trên tạp chí Địa lý lịch sử và mô tả (Bulletin de géographie historique et descriptive), số 2 năm 1896, được đánh giá cao và tác giả được giải thưởng “Jomard” của Hiệp hội Địa lý năm 1897. Công trình Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV, từ đây gọi tắt là Tập Hải đồ, gồm một tập 25 tờ chú thích và 24 tấm bản đồ nối tiếp từ Kinh thành Thăng Long đến cố đô Vương quốc Champa cùng với các phụ lục là hai Hành trình đường bộ và Hành trình đường thủy mà tác giả cho biết là một tài liệu quân sự, được thiết lập dựa trên các thông tin thu thập được khoảng cuối thế kỷ XV của các phái viên do vua Lê Thánh Tông cử đi mật thám để vẽ chuẩn bị cho việc bình định Champa.

Với 24 tấm bản đồ và phụ lục kèm theo viết bằng chữ Hán hoặc Nôm, G. Dumoutier đã thực hiện: sao, chụp lại các tấm bản đồ; đọc và phiên âm các địa danh, các chỉ dẫn ra chữ Quốc ngữ và giải nghĩa bằng tiếng Pháp, đánh số ngay sát các chữ Hán, hoặc Nôm trên bản đồ những con số tương ứng để người đọc dễ đối chiếu; chuyển ngữ từ Hán, hoặc Nôm ra chữ Quốc ngữ và giải nghĩa bằng tiếng Pháp cả hai Hành trình đường bộ và Hành trình đường thủy (sông, biển); cuối cùng, nghiên cứu, phụ bổ các chú giải địa lý, lịch sử và khảo cổ trên các vùng đất mà G. Dumoutier đã đi qua trên hai hành trình bằng việc đối chiếu Tập Hải đồ với các bản đồ đương đại. Qua việc nghiên cứu bằng phép đối chiếu bản đồ và đi thực tế, tác giả đã nêu lên những thay đổi khá quan trọng từ ba thế kỷ tại một số điểm miền duyên hải Trung kỳ và Bắc kỳ so với những trầm tích của các dòng sông. Tác giả đã nêu lên những đổi thay khá quan trọng từ các công trình nhân tạo như thành lũy ở Hà Nội, những đoạn đê phải đắp lại do lũ lụt, những ngôi đền, chùa và các chiến lũy xưa kia chỉ còn dấu tích, cả những con sông đã chuyển dịch theo thời gian, hay bờ biển bị xâm lấn, sự tồn tại của Hoàng Sa và Trường Sa, hay sự không tồn tại của thành phố Huế vào thế kỉ 15...

MỤC LỤC

Giới thiệu công trình Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV

Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV

Phần dịch các tài liệu kèm theo và phụ lục dành cho Tập hải đồ
1. Đường bộ
2. Đường sông và đường biển - các chỉ dẫn hàng hải
3. Những chỉ dẫn đường bộ

Bản đồ

Phiên âm và dịch các địa danh xuất hiện trên bản đồ

Nghiên cứu bản đồ cửa sông, cửa biển đối chiếu với các bản đồ hiện thời (cuối thế kỷ XIX)

Phụ lục:
Gustave Dumoutier, giám đốc học chính Trung-Bắc kỳ với lịch sử và văn hóa Việt Nam

TỪ ĐIỂN NHÀ NGUYỄN - Võ Hương An

Tao Đàn Thư Quán chuẩn bị hợp tác với Nxb Tổng hợp TPHCM xuất bản cuốn biên khảo TỪ ĐIỂN NHÀ NGUYỄN của nhà nghiên cứu lão thành VÕ HƯƠNG-AN [tức Võ Văn Dật, sinh năm 1938, tác giả nhiều biên khảo có giá trị, như: HUẾ CỦA MỘT THỜI (xuất bản năm 2006), VUA KHẢI ĐỊNH - HÌNH ẢNH VÀ SỰ KIỆN, 1916 - 1925 (xuất bản năm 2006), LỊCH SỬ ĐÀ NẴNG, 1306 - 1975 (xuất bản năm 2006, tái bản năm 2019), TRONG NGÕ NGÁCH SỬ VIỆT (xuất bản năm 2015).

Cuốn TỪ ĐIỂN NHÀ NGUYỄN xuất bản lần đầu tại Hoa Kỳ vào năm 2012, dày 764 trang, cỡ chữ 8 pt. Tái bản tại Đài Loan vào năm 2016, in thành 2 tập với tổng số trang là 844 trang, cỡ chữ 9 pt.
Đây là lần đầu tiên TỪ ĐIỂN NHÀ NGUYỄN được cấp phép xuất bản tại Việt Nam.

Trong lần xuất bản này, nhà nghiên cứu Võ Hương-An đã tiếp thu những góp ý, hiệu chỉnh, bổ khuyết của các nhà nghiên cứu ở Huế như Phan Thuận An, Nguyễn Phúc Vĩnh Ba…, đối với một số mục từ / chi tiết chưa chính xác trong những lần xuất bản trước. Ngoài ra, chúng tôi, với tư cách người biên tập cũng bổ sung một thông tin, hình ảnh minh họa thay cho những hình ảnh đã có trong sách nhưng chất lượng ảnh không được tốt, hoặc chưa được cập nhật. Đồng thời sẽ biên tập, chỉnh sửa các dùng từ, cách viết hoa, viết thường, các bỏ dấu thanh và sử dụng các loại ký hiệu trong sách cho phù hợp với luật chính tả tiếng Việt hiện tại ở Việt Nam.

Vì thế, chúng tôi kỳ vọng, lần tái bản này (cũng là lần xuất bản đầu tiên ở Việt Nam) TỪ ĐIỂN NHÀ NGUYỄN sẽ hoàn hảo hơn về nội dung và đẹp hơn về hình thức.

Chúng tôi sẽ in thành 2 tập, thay vì in 1 tập sách sẽ quá dày, và sẽ in cỡ chữ lớn hơn (11 pt) để độc giả dễ dàng hơn khi cầm đọc, tra cứu mục từ.
Sách sẽ có hai định dạng: 200 bộ bìa cứng có đánh số thứ tự từ 1 đến 200 và 500 bộ bìa mềm.

Hiện tại chưa có giá bìa vì còn tùy thuộc vào kích cỡ, số ảnh sử dụng, số trang và loại giấy in sách. Chúng tôi sẽ sớm chốt giá bìa cho từng loại sách và sẽ thông báo cho quý độc giả.
Sách dự kiến phát hành vào tháng 8/2020.

Kính mời quý độc giả quan tâm đăng ký mua sách và đón đọc bộ từ điển độc đáo và thú vị này.
TAO ĐÀN THƯ QUÁN
****

LỜI NÓI ĐẦU CỦA LẦN XUẤT BẢN ĐẦU TIÊN
Nhà Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam.
Khởi đi từ việc Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vâng lệnh vua Lê vào trấn thủ Thuận Hóa năm Mậu Ngọ (1558) - sau trở thành vị chúa đầu tiên của 9 đời chúa Nguyễn - và chấm dứt vào năm Ất Dậu (1945), khi Hoàng đế Bảo Đại, vua cuối cùng của triều Nguyễn, tuyên bố thoái vị và trao quyền cho chế độ dân chủ mới thành hình, họ Nguyễn đã hiện hữu trong lịch sử Việt Nam 387 năm, dài nhất so với các triều đại quân chủ khác từ trước.
Trong non 4 thế kỷ đó, dù dưới cái nhìn yêu hay ghét, công bình hay đầy định kiến, cũng phải công nhận một sự thật hiển nhiên là, những định chế của triều đại này khi thiết định trong quá trình cai trị quả thật đã có ảnh hưởng sâu xa trong nhiều mặt như lịch sử, chánh trị, luật pháp, văn học, văn hóa, xã hội,… của Việt Nam thời cận và hiện đại, ban đầu mới chỉ trên nửa nước phía nam sông Gianh, nhưng đến đầu thế kỷ XIX thì trùm khắp cả nước, từ Cà Mau tới Nam Quan, khi vua Gia Long thống nhất giang sơn năm 1802.

Trước Nhà Nguyễn đã có các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Lê - Trịnh và Tây Sơn. Nhưng những triều đại đó đã xa rồi, đã mất hết quyền lực, những định chế của họ đã bị những định chế về sau sửa đổi và thay thế, nên ảnh hưởng đã phai nhạt dần trước ảnh hưởng của nhà Nguyễn.
Vì vậy, việc hiểu rõ chữ nghĩa nhà Nguyễn là điều cần thiết giúp tránh tình huống không hiểu, hiểu sai hoặc ngộ nhận. Từ đó dẫn đến việc nhận định, giải thích, phê phán thiếu chính xác nếu không nói là sai lầm. Hiện tượng này thường xảy ra như thấy được qua các ấn phẩm và truyền thông, không phải ở tầm mức kiến thức phổ thông mà ngay cả trong lãnh vực biên khảo chuyên môn.

Thử lấy một ví dụ: trong các loại ấn tín của triều Nguyễn, có ấn quan phòng. Các dịch giả của Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Tập IV, tr. 204) trong đề mục Ấn quan phòng, đã chú thích rằng đó là “Một loại ấn có chữ khác cùng chia đôi dùng để so chắp”. Thực sự, tôi không hiểu chú thích này.

Cũng với cái tên ấn quan phòng, dịch giả Nguyễn Sĩ Giác, vị tiến sĩ cuối cùng của nền Nho học Việt Nam, trong dịch phẩm Đại Nam điển lệ, đã chú thích rằng “Quan phòng cũng là một danh từ các dấu. Như nói Tổng đốc quan phòng, Tuần phủ, Bố chánh,

Án sát quan phòng là dấu của các quan ấy. Ấn các quan chức còn danh từ khác nữa là: đồ ký, đồ chương. Quan phòng là cái ấn to, ấn triện hay kiềm đều là ấn nhỏ”. (tr. 337)
Chú thích này tuy có rõ hơn, dễ hiểu hơn chú thích của Hội điển IV nhưng vẫn còn mù mờ. Thực sự, nó là gì?

Ấn quan phòng là ấn chức vụ cấp cho người cầm đầu một cơ quan, một đại đơn vị quân đội, có hình chữ nhật, khác với ấn của cơ quan, gọi là ấn triện, là có hình vuông.

Các dịch giả nói trên giải thích mù mờ vì không hiểu rõ nó là cái gì. Cũng liên quan vấn đề ấn triện, trong Điển lệ, dưới đề mục 193 -Ấn ngự bửu (ấn nhà vua), với chú thích số (4), dịch giả giải thích rằng “Ấn bửu là ấn của nhà vua, làm bằng ngọc, có khắc chữ ‘Thụ mạnh [sic] vu thiên, ký thọ vĩnh xương’ nghĩa là ‘Chịu mạnh [sic] ở trời, đã thọ lại được trường thịnh’. Đây là ấn của nhà Nguyễn truyền từ đời Gia Long”. (tr. 335). Đây là một giải thích hoàn toàn sai lầm, do dịch giả không hiểu rõ nhà Nguyễn có bao nhiêu loại ấn và vai trò các loại ấn đó khác nhau như thế nào, lại lẫn lộn giữa ấn truyền quốc của đế chế Trung Hoa với ấn truyền quốc của triều Nguyễn.

Nỗ lực của tác giả trong khi biên soạn TỪ ĐIỂN NHÀ NGUYỄN không ngoài mục đích nhỏ bé là “cái gì của Cesar trả lại cho Cesar”, giúp độc giả có sẵn trong tầm tay những giải thích căn bản, nói có sách mách có chứng, để khỏi rơi vào những tình huống đáng tiếc đã nói.

Dù thận trọng và cố gắng đến đâu chăng nữa trong khi biên soạn, người viết tin chắc rằng vẫn không tránh được những sai lầm và thiếu sót rất có thể có nhưng chưa được phát hiện. Rất mong nhận được sự chỉ giáo của các bậc cao minh bốn phương để tác phẩm được đầy đủ và hoàn thiện hơn.

Tháng 8 năm 2012
Soạn giả VÕ HƯƠNG-AN

LÀNG MẠC Ở CHÂU THỔ SÔNG HỒNG

Tác giả: Nguyễn Tùng, Nelly Krowolski
Số trang: 336 trang
Khổ sách: 16x24 cm
Loại sách: bìa mềm, có tay gập

GIỚI THIỆU SÁCH
1) Tác giả
Nguyễn Tùng và Nelly Krowolski từng làm việc lâu năm trong ngành nhân học ở Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học của Pháp (CNRS), chuyên nghiên cứu về Việt Nam, là tác giả của nhiều bài nghiên cứu được đăng trong một số tạp chí khoa học ở Pháp cũng như ở Việt Nam, đặc biệt trong các cuốn: Autour du riz, le repas chez quelques populations d'Asie du Sud-Est (Xung quanh cơm, bữa ăn nơi vài cộng đồng ở Đông Nam Á) (Nelly Krowolski (chủ biên), Paris: L'Harmattan, 1993); Mông Phụ, un village du delta du fleuve Rouge (Mông Phụ, một làng ở châu thổ sông Hồng) (Nguyễn Tùng (chủ biên), Paris: L'Harmattan, 1999); Từ Đông sang Tây (Nguyễn Tùng (đồng chủ biên), Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 2005)… Sau khi về hưu, Nguyễn Tùng đã dịch một số sách do Nxb. Tri thức xuất bản như Luận về biếu tặng của Marcel Mauss, Xã hội diễn cảnh của Guy Debord, Định chế Tôtem hiện nay của Claude Lévi-Strauss…
2) Tác phẩm

Các bài viết trong sách này là kết quả mà Nguyễn Tùng và Nelly Krowolski đã đạt được thông qua hai chương trình hợp tác nghiên cứu Pháp-Việt:
1. “Làng Mông Phụ” (xã Đường Lâm, Hà Nội) do Viện Dân tộc học (thuộc tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), cùng Viện Nghiên cứu Ðông Nam Á và Thế giới Nam Đảo (LASEMA, thuộc Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học của Pháp, CNRS) thực hiện vào đầu thập niên 1990;
2. “Làng ở vùng châu thổ sông Hồng” (1996-1999) do ba tổ chức khoa học Pháp và Việt Nam chủ trì: Văn phòng đại diện Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Việt Nam, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Các bài về làng Mông Phụ đã được in trong cuốn Mông Phụ, un village du delta du fleuve Rouge (Nguyễn Tùng (chủ biên), Paris: L'Harmattan, 1999, 349 trang). Còn những bài về ba làng Tả Thanh Oai, Mộ Trạch và Đông Ngạc thì được đăng trong cuốn Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (Philippe Papin, Olivier Tessier (chủ biên), Hà Nội: Nxb. Lao Động-Xã Hội, 2002, 742 trang). Chúng đã được Nguyễn Tùng sửa chữa, bổ sung và tập hợp trong cùng một cuốn sách cho tiện việc tham khảo

3) Mục lục
Lời nói đầu
Vài tâm đắc về làng xã Việt Nam
I. Làng Mông Phụ (xã Đường Lâm, Hà Nội)
Từ tổng đến xã: lãnh thổ và bản sắc
Tổ chức chính trị và xã hội*
Tổ chức không gian
Biến đổi kinh tế
Từ nội sang ngoại: Từ vựng thân tộc
Gia đình mở rộng hay gia đình hạt nhân
Cưới hỏi ở làng quê
Ẩm thực ở làng quê: từ bữa ăn hằng ngày đến bữa tiệc
II. Ba làng Tả Thanh Oai, Mộ Trạch và Đông Ngạc
Về không gian làng
Họ, dòng họ và không gian hôn nhân ở Tả Thanh Oai, một làng ngoại ô Hà Nội
III. Chợ làng
Ba chợ làng ở châu thổ sông Hồng
Thư mục

Want your business to be the top-listed Restaurant in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Videos (show all)

Nghệ thuật đóng sách

Address

; } ?> }

Phường Hiệp Thành, Quận 12
Ho Chi Minh City
700000

Opening Hours

Monday 08:00 - 22:00
Tuesday 08:00 - 22:00
Wednesday 08:00 - 22:00
Thursday 08:00 - 22:00
Friday 08:00 - 22:00
Saturday 08:00 - 22:00
Sunday 08:00 - 22:00
Other Ho Chi Minh City restaurants (show all)
Urban Station 172 Bàu Cát Urban Station 172 Bàu Cát
172 Bàu Cát
Ho Chi Minh City, 100

Đậu Quán Đậu Quán
415D Hòa Hảo, Quận 10
Ho Chi Minh City, NNB

Hơn cả đậu nành - Đó là THQ

Báo giá thiết kế menu quán café Báo giá thiết kế menu quán café
Hồ Văn Huê - P.9 - Phú Nhuận
Ho Chi Minh City, 70000

BÁO GIÁ THIẾT KẾ MENU CAFÉ, BAO GIA THIET KE MENU CAFE giá rẻ nhất tại TpHCM. Nhanh tay liên hệ ngay: 0903.181.581 - 0913.620.679

Bánh Tráng Mắm Ruốc Dori Bánh Tráng Mắm Ruốc Dori
Cư Xá đô Thành Phường 4 Quận 3
Ho Chi Minh City, 700000

Bánh tráng mắm ruốc Dori Giòn rụm + mặn + ngọt + cay = ngon bá cháy 33k/bịch (5 cái) 3 bịch ---- 31k/bịch 5 bịch ---- 29k/bịch

Kawaii Nail Kawaii Nail
1st Floor,7/7 Nguyễn Trãi, P.Bến Thành, Q1
Ho Chi Minh City, 700000

ベトナムモチーフをネイルアートにした旅ネイルができるのはKawaiiNailだけ ↓Easy Booking ↓ https://peraichi.com/landing_pages/view/kawaiinail

Dầu nhớt và thiết bị kỹ thuật TKM-Tech Parts Dầu nhớt và thiết bị kỹ thuật TKM-Tech Parts
Ho Chi Minh City, 04

TKM-Tech Parts cung cấp các sản phẩm trên toàn quốc: - Nhớt xe ô tô, xe máy - Nhớt công nghiệp. - Phụ tùng ô tô - Thiết bị sửa chữa garage Hotline: 0777.805.139

56 Đào Duy Anh Milano Coffee 56 Đào Duy Anh Milano Coffee
56 ĐÀO DUY ANH, P.9, Q.PN, TP.HCM
Ho Chi Minh City, 700000

Quán cà phê, Coffee, Cafe, Điểm tâm

3ackpackers 3ackpackers
482/15 Nơ Trang Long, 13 Ward, Binh Thanh Dist
Ho Chi Minh City

3ackpackers Cafe - 39/1 Phan Xích Long, P.3, Q.Phú Nhuận - Nơi bạn tìm thông tin, kết bạn và khám phá vẻ đẹp của đất nước, văn hóa, con người Việt Nam

CHANG KANG KUNG CHANG KANG KUNG
11 Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10
Ho Chi Minh City, 700000

Cơm Chay Hương Sen Cơm Chay Hương Sen
2/1F Cao Thắng, Quận 3
Ho Chi Minh City, (84)908811907

Cơm chay Hương Sen Cơm Chay - Cà Phê - Sinh Tố 2/1F Cao Thắng Q3 (gần bệnh viện Từ Dũ). Đồng giá 20,000đ/ phần cơm, canh và trà đá.

Cafe Bean - Cà Phê Nguyên Hạt Cafe Bean - Cà Phê Nguyên Hạt
411 Lê Văn Lương, P.Tân Phong, Quận 7
Ho Chi Minh City

Cafe Bean - Cà Phê Nguyên Hạt

Chuyên HÀNG GIA DỤNG CHÂU ÂU, MỸ, HÀN Chuyên HÀNG GIA DỤNG CHÂU ÂU, MỸ, HÀN
Số 84 Lê Niệm, Phường Phú Thạnh, Quận Tân Phú
Ho Chi Minh City, 700000