Khoa Huyết Học Truyền Máu - Bệnh viện quận Thủ Đức

Khoa Huyết Học Truyền Máu - Bệnh viện quận Thủ Đức

Comments

🌴 ☀ 🌴 ☀ 🌴 ☀ 📢 Nhà Phố Văn Minh, đường số 1, Hiệp Bình, Thủ Đức, Tp,hcm 📢 Diện tích 4x14m2, giá 3 tỷ 700 triệu đồng 📢 Nhà 1 trệt 3 lầu , 4 phòng ngủ, 4wc, 1 bếp, 1 nhà thờ, ban công, sân thượng. 📢 Tặng nội thất , thiết kế hiện đại, đường xá thông thoáng, công viên cây xanh. 📢 Dân cư ổn định, sát bên sân banh, gần ngã ba cá sấu hoa cà, thông với Phạm Văn Đồng. Liên hệ để biết thêm thông tin ; 0961.316.333 Mr Kiều Nhà Mới xây hoàn toàn, sổ hồng riêng, công chứng sang tên ngay

Cảm thông - Vững tiến

Operating as usual

Khoa Huyết Học Truyền Máu - Bệnh viện quận Thủ Đức

Khoa Huyết Học Truyền Máu - Bệnh viện quận Thủ Đức's cover photo

Khoa Huyết Học Truyền Máu - Bệnh viện quận Thủ Đức's cover photo

Xét nghiệm APTT
Hôm nay Ad viết hơi dài nhe các bạn :D
Bạn nào muốn bản full thì share bài và comment email bên dưới Ad sẽ gửi nhé.

1. Tên xét nghiệm: Thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần ( Activated Partial Thromboplastin Time)
Thromboplastin (TPL), còn gọi là Thrombokinase là một hỗn hợp gồm phospholipid và yếu tố mô xúc tác cho quá trình chuyển Prothrombin thành thrombin để tạo thành cục máu đông.
Tên gọi Activated Partial Thromboplastin Time (APTT) được xuất phát từ cách thức thực hiện đầu tiên của xét nghiệm này (được giới thiệu vào năm 1953): người ta chỉ kiếm soát nồng độ của phospholipid (đối kháng lại với nồng độ phospholipid và các chất hoạt hóa bề mặt). Tên gọi “Partial Thromboplastin” được áp dụng trong thời điểm chuẩn bị phospholipid – một chất làm tăng đông máu nhưng không điều chỉnh được thời gian đông máu bị kéo dài ở những bệnh nhân bị Hemophilia.
Về bản chất, thuật ngữ “Partial” chỉ sự hiện diện của phospholipid mà không có sự hiện diện của yếu tố mô.
2. Nguyên lý: Huyết tương nghèo tiểu cầu (PPP) được ủ ở 37oC khoảng 2 – 10 phút, sau đó cho phospholipid (cephalin) và chất hoạt hóa tiếp xúc (Kaolin, hạt silica hoặc ellagic acid) vào. Quá trình này dẫn tới việc chuyển đổi yếu tố XI thành yếu tố Xia nhưng phần còn lại của con đường đông máu vẫn chưa được kích hoạt vì không có canxi. Việc thêm canxi vào sẽ khởi động quá trình đông máu. APTT là thời gian được tính từ lúc thêm canxi vào đến khi hình thành cục máu đông.
3. Phương pháp:
Huyết tương nghèo tiểu cầu [PPP] được ủ ở 37 ° C với phospholipid (cephalin) và một hoạt hóa tiếp xúc (ví dụ Kaolin). Sau đó thêm canxi (tất cả được làm ấm trước đến 37 ° C). Việc bổ sung canxi sẽ khởi động đông máu và thời gian bắt đầu được tính. APTT là thời gian cần thiết để một cục máu đông hình thành. Thời gian ủ từ 2 – 10 phút.
4. Chuẩn bị mẫu:
-Chuẩn bị bệnh nhân: bệnh nhân không cần phải nhịn ăn trước khi lấy máu, có thể lấy máu ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày
Chuẩn bị lấy mẫu:
Mẫu máu được chống đông bằng sodium citrate 3.2% theo tỉ lệ 1 thể tích chống đông: 9 thể tích máu.
Dây garo được gắn cách vị trí đâm kim khoảng 4 inch (tương đương 10cm). Không để dây garo quá 1 phút. Ưu tiên kim 19 – 21 gauge. Trong một số trường hợp máu được lấy bằng kiêm bướm hoặc catheter hoặc máu để sử dụng làm xét nghiệm PFA-100 thì cho máu vào một ống khác trước khi cho vào ống sodium citrate. Lắc đảo ống nghiệm để trộn đều máu với chất chống đông tối thiểu 2 lần(Có tài liệu ghi 4, có tài liệu ghi 8). Khu vực xung quanh tĩnh mạch chỗ lấy máu phải nguyên vẹn, không được chấn thương. Có thể sử dụng máu động mạch.[1]
Nếu buộc dây garo > 1 phút làm tăng nồng độ Fibrinogen và yếu tố VII, VIII, XII cũng như kích hoạt các tế bào nội mô và quá trình tiêu sợi huyết. Một số xét nghiệm đặc biệt như xét nghiệm các dấu ấn tạo ra thrombin như phức hợp antithrombin- thrombin, và các mảnh prothrombin thì lấy máu không cần dây garo vì sẽ làm tăng các dấu ấn đặc biệt nếu cột dây garo hơn 1 phút. Buộc dây garo > 3 phút làm gây tắc mạch dẫn tới kích hoạt đông máu nên PT, APTT, TT bị rút ngắn[3]
Tỉ lệ máu và chống đông là 1 thể tích chống đông: 9 thể tích máu. Nếu lấy máu thiếu thì lượng chống đông sẽ dư dẫn đến thời gian đông máu kéo dài do calci đưa vào sẽ kết hợp với chống đông trước. Khi máu lấy dưới 89% thể tích yêu cầu thì sẽ gây sai lệch kết quả APTT đáng kể , dưới 78% đối với Fibrinogen, dưới 67% đối với yếu tố VIII, trong khi đó PT và protein C vẫn có kết quả đáng tin cậy khi thể tích máu dưới 67%. Thay vì từ chối mẫu có thể lưu ý thể tích mẫu để điều chỉnh tùy trường hợp.[3]
Cơ chế chống đông sodium citrate: :Kết hợp với Canxi ngăn cản quá trình đông máu
Khi Hct vượt quá 55%, thể tích huyết tương tăng hay giảm đòi hòi phải giảm thể tích chất chống đông để duy trì tỉ lệ 9:1 theo công thức: C (ml) = 1.85 x 10-3 x (100-Hct (%)) x V (ml)
Trong đó: C = ml, thể tích của chống đông Trisodium citrate 3.2%
Hct (%) = haematocrit của mẫu máu bệnh nhân
V = ml, thể tích của ống nghiệm
Hct để đảm bảo tỉ lệ 1 V chống đông: 9 V máu.
Đối với trẻ sơ sinh nên dùng ống hút mẫu 1ml thay vì 2ml. Thể tích của chống đông nên dựa trên thể tích của huyết tương chứ không phải dựa trên tổng thể tích máu được lấy và nên giảm tỉ lệ chống đông để tránh làm loãng các yếu tố đông máu do Hct ở trẻ sơ sinh rất cao. Tuy nhiên, hầu hết các phòng xét nghiệm và các đơn vị sơ sinh có cách tiếp cận thực tế hơn là họ chấp nhận một mức độ kéo dài giả tạo của thời gian đông máu và hầu hết các khoảng tham chiếu xét nghiệm đông máu sơ sinh đều dựa trên điều này.
Mẫu máu được quay li tâm với tốc độ 4000 vòng/phút trong 5 phút. Thực hiện xét nghiệm trong vòng 4h ở nhiệt độ phòng kể từ khi lấy máu (CLSI).
Mẫu máu bị tiêu huyết( 95% là tiêu huyết nhẹ do tế bào hồng cầu bị vỡ, 500mg/dL đã làm đục huyết tương, mẫu máu gọi là có Triglycerid cao khi Tri >866mg/dL) hoặc Bilirrubin cao (>1,5mg/dL) sẽ ảnh hưởng đến kết quả đông máu được đo bằng nguyên tắc đo quang. CLSI khuyến cáo đối với mẫu máu có Triglycerid cao thì sẽ quay li tâm với tốc độ 40000 vòng/phút trong 30 phút.Tuy nhiên trên thực tế thì điều này khó thực hiện do tốn thời gian và đòi hỏi thiết bị chuyên dụng mà nhiều phòng xét nghiệm thường quy không có. Hơn nữa việc quay li tâm lâu như vậy sẽ gây tủa một số protein kích thước lớn như fibrinogen, phức hợp yếu tố VIII – Von willebrand. Phướng pháp thay thế là li tâm kép 20,000 vòng/ phút trong 15 phút hoặc chiết lipid bằng các dung môi hữu cơ như fluorine chlorinated hydrocarbon hoặc các chất làm sạch lipid như Lipoclear và n – hexane. Đối với mẫu máu có bilirubin thấp hơn 20mg/dL thì khi dùng một số thiết bị đông máu có bước sóng 650nm hoặc lớn hơn thì kết quả sẽ không bị ảnh hưởng [2]
Không thực hiện xét nghiệm khi mẫu máu bị tiêu huyết hoặc bị đông.
5. Kiểm tra chất lượng:
Hiệu chuẩn - Nội kiểm - Ngoại kiểm
6. Kết quả - Bàn luận kết quả:
5.1 Kết quả bình thường: giá trị bình thường nằm trong khoảng 24 – 35 s nhưng có thể thay đổi giữa các phòng xét nghiệm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như xét nghiệm được thực hiện trên máy tự động hay làm thủ công, chất hoạt hóa đông máu, thời gian ủ, …
5.2 APTT chứng: Tùy hãng cung cấp hoặc tùy PXN
Đề nghị xét nghiệm nào tiếp?
Mix test: Trộn huyết tương bệnh nhân với huyết tương người bình thường theo tỉ lệ 1:1 có thể giúp phân biệt giữa suy giảm yếu tố và tồn tại chất ức chế. Nếu Mix test không điều chỉnh được khoảng 3s – 4s APTT thì điều này có thể gợi ý:
+Có một chất ức chế đông máu như khảng thể chống yếu tố VIII mắc phải
+Kháng thể chống phospholipid như kháng đông lupus
Tài liệu tham khảo:
1. Giuseppe Lippi, M.D. Gian Luca Salvagno, M.D. Martina Montagnana (2012) Quality Standards for Sample Collection
in Coagulation Testing, Australia
2. Mario Plebani Giuseppe Lippi, Emmanuel J. Favaloro (2013) Interference in Coagulation Testing: Focus on
Spurious Hemolysis, Icterus, and Lipemia. Australia.
3. A. Magnette, M. Chatelain, B. Chatelain (2016) "Pre-analytical issues in the haemostasis laboratory: guidance for the clinical laboratories".

***Trương Bích Liễu***

Khoa Huyết Học Truyền Máu - Bệnh viện quận Thủ Đức's cover photo

XÉT NGHIỆM MÁU LẮNG (Erythrocyte Sedimentation Rate = ESR)
1. Lịch sử
Xét nghiệm máu lắng (Erythrocyte Sedimentation Rate – ESR) được công bố lần đầu tiên bởi một bác sỹ người Ba Lan tên là Edmund Faustyn Biernacki vào năm 1897 với 5 kết luận quan trọng nhất là: tốc độ máu lắng ở mỗi cá nhân khác nhau sẽ khác nhau; máu mà có ít tế bào máu hơn thì sẽ lắng nhanh hơn; tốc độ máu lắng phụ thuộc vào nồng độ fibrinogen huyết tương; khi bị sốt (bao gồm sốt thấp khớp) thì nồng độ fibrinogen trong huyết tương sẽ tăng, ESR cũng tăng theo; và máu bị mất fibrinogen thì máu sẽ lắng chậm hơn. Những phát hiện của ông Biernacki đã cho thấy rõ ý nghĩa lâm sàng của xét nghiệm ESR. Năm 1906 ông chỉnh sửa phương pháp của ông, dùng ống hút mao quản thay cho ống hình trụ cao 20mm như ban đầu. Kỹ thuật này cho phép xác định tốc độ máu lắng khi mẫu máu được lấy từ đầu ngón tay cho vào ống mao quản với chất chống đông là sodium oxalate.
Ông Biernacki mất năm 45 tuổi. Sau 7 năm ông mất thì có một nhà huyết học người Thụy Điển tên là Robert Sanno Fåhraeus đã tiếp tục công bố nghiên cứu về xét nghiệm ESR. Ông phân tích thời gian máu lắng khác nhau giữa 2 nhóm phụ nữ: mang thai và không mang thai. Ông công bố kết quả công trình nghiên cứu của ông vào năm 1918 và 3 năm sau công trình này được công bố rộng rãi trên tạp chí Acta Medica Scandinavica. Ông Fåhraeus nhận thấy có thể sử dụng xét nghiệm ESR như một test thử thai.
Một nhà khoa học khác có nghiên cứu về xét nghiệm ESR là một bác sỹ nội khoa người Thụy Điển tên là Alf Vilhelm Albertsson Westergren. Ông quan sát quá trình máu lắng xuống từ những bệnh nhân bị lao phổi và cũng có những mô tả tương tự về hiện tượng máu lắng như 2 nhà khoa học trước Biernacki và Fåhraeus. Ông Westergren sử dụng máu được chống đông bằng sodium citrate cho xét nghiệm máu lắng. Sau này phương pháp Westergren được xem là phương pháp chuẩn nhất cho xét nghiệm máu lắng.
Quá trình phát minh ra xét nghiệm máu lắng là một ví dụ về sự khó khăn trong việc trao đổi các thông tin y khoa, không những ở trước thời kỳ của Medline và PubMed mà còn ở thời kỳ tiếng anh chưa là ngôn ngữ chung trên thế giới. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đa số các công trình khoa học đều được trình bày bằng tiếng Anh và tiếng Đức.
Đề duy trì độ tin cậy cao nhất, xét nghiệm máu lắng nên được đặt tên theo phương pháp xét nghiệm cụ thể được sử dụng, ví dụ xét nghiệm máu lắng theo phương pháp Westergren. Xét nghiệm máu lắng được phát minh bởi ông Biernacki người Ba Lan và được ông Westergren phát triển thành một kỹ thuật xét nghiệm mới.
Phương pháp Westergren là tiêu chuẩn vàng và được sử dụng làm phương pháp xét nghiệm tham chiếu của xét nghiệm máu lắng ( Theo Hội đồng tiêu chuẩn quốc tế về Huyết học = International Council for Standardization in Haematology = ICSH)
2. Quy trình xét nghiệm máu lắng theo phương pháp Westergren:
Pha loãng 1,6 ml máu toàn phần với 0,4 ml dung dịch natricitrat 3,8% (tỷ lệ 1:4). Lắc đều nhẹ nhàng. Dùng ống Westergren hút máu đã pha loãng đến vạch 0. Lau sạch xung quanh ống máu lắng. Cắm thẳng đứng ống máu lắng lên giá Westergren. Đọc chiều cao cột huyết tương bằng thước vạch có sẵn trên ống Westergreen sau 1 giờ và 2 giờ.
3. Danh sách một số thiết bị xét nghiệm ESR và phương pháp đo kèm theo (hình ảnh bên dưới bài viết)
4. Kết luận:
Như đã nói ở trên, tiêu chuẩn vàng để xác định tốc độ máu lắng là phương pháp Westergren. Sau hơn 120 năm được phát minh, xét nghiệm máu lắng hiện nay cũng được sử dụng khá phổ biến trên lâm sàng. Và hiện nay có nhiều phương pháp đo ESR được chỉnh sửa và thay thế với thời gian được rút ngắn lại, chi phí rẻ hơn, thao tác an toàn hơn và độ tin cậy vẫn đảm bảo. ICSH khuyến nghị nhà sản xuất thiết bị xét nghiệm phải nói rõ xét nghiệm máu lắng này được thực hiện hiện theo phương pháp nào và phòng xét nghiệm lựa chọn, xác nhận phương pháp xét nghiệm phù hợp và đảm bảo chất lượng kết quả xét nghiệm được đưa ra.
5. Tài liệu tham khảo
https://www.webmd.com/a-to-z-guides/your-sedimentation-rate
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4614602/
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21352508
***Trương Bích Liễu***

MÁY XÉT NGHIỆM CÔNG THỨC MÁU TỰ ĐỘNG
Nội dung: Lịch sử phát triển, nguyên lý, các sai sót do phương pháp đo của từng máy, kết quả bị ảnh hưởng do mẫu máu và cách khắc phục.....

Xét nghiệm Công thức máu (Complete Blood Count = CBC) hay còn gọi là Huyết đồ là một trong những xét nghiệm định lượng xuất hiện đầu tiên trong số các xét nghiệm định lượng và hiện nay xét nghiệm công thức máu được sử dụng khá phổ biến trong lâm sàng.

Ban đầu người ta đếm bằng cách cho mẫu máu cần xét nghiệm vào một buồng đếm rồi quan sát dưới kính hiển vi quang học. Các kỹ thuật sau này có liên quan đến phương pháp dòng chảy đếm số lượng tế bào máu một cách tự động dựa trên phương pháp điện trở kháng hoặc tán xạ ánh sáng/ kỹ thuật huỳnh quang khi cho từng tế bào một đi qua khe đếm.

Xét nghiệm công thức máu lần đầu tiên được thực hiện bởi ông Karl Vierordt – một nhà sinh lý học người Đức tại Đại học Tu¨ bingen, nghiên cứu được công bố vào năm 1852. Ông lấy máu bệnh nhân cho vào ống mao quản sau đó ông trải một thể tích máu đã biết trên một lame kính và đếm dưới kính hiển vi quang học.

Những năm sau đó phương pháp này được cải tiến lên bằng một số phương pháp như sử dụng ống mao quản hình e-lip hoặc khắc mạng lưới các ô vuông lên buồng đếm để đếm các tế bào dễ dàng hơn. Những cải tiến này làm cho việc đếm số lượng chính xác hơn nhưng chậm, mất nhiều thời gian.

Các máy xét nghiệm công thức máu tự động hiện nay chủ yếu dựa trên 2 phương pháp điện và phương pháp đo quang:

1. Phương pháp đo quang:

1.1 Lịch sử:

Vào cuối những năm 1940, ông Wallace Coulter đã nghiên cứu một phương pháp đánh giá các hạt trong nước sơn. Những trải nghiệm trong hải quân và việc chứng kiến hậu quả sau vụ nổ bom nguyên tử vào cuối chiến tranh thế giới thứ 2 đã thúc đẩy ông tìm kiếm cách thức để ứng dụng kỹ thuật của mình vào việc đếm tế bào máu. Trong một phát minh được gọi là hiệu ứng Coulter, ông đã chế tạo được một dụng cụ phân tích tế bào máu đơn giản có thể đếm số lượng tế bào máu một cách nhanh chóng. Hiệu ứng Coulter dựa trên nguyên lý các tế bào máu là chất dẫn điện kém so với với dung dịch muối và khi cho các tế bào máu riêng lẻ đi qua một lỗ nhỏ cùng lúc với dòng điện làm giảm cường độ dòng điện, khi càng nhiều tế bào đi qua thì điện trở xuất hiện càng lớn do các hạt có tính chất cản trở điện. Độ lớn của xung điện tỉ lệ với thể tích của tế bào, số lượng xung điện tương ứng với số lượng tế bào. Đây chính là nền tảng để đếm và phân loại tế bào dựa trên kích thước. Khái niệm đơn giản này đã làm nền tảng cho sự phát triển của các thế hệ máy phân tích huyêt học tự động hiện đại sau này.

Sau phát minh của ông Coulter vào năm 1953, sau này có nhiều sự cải tiến hơn, phổ biến là đếm tế bào dòng chảy bằng cách cho tế bào chảy trực tiếp qua kênh đếm (flow cell) hoặc buồng đếm (chamber) thay vì đi qua một khe hở (aperture) như trước.

Năm 1965, ông Fulwyler sử dụng phương pháp đếm của ông Coulter để đo thể tích tế bào. Phương pháp của ông Fulwyler và phương pháp dựa trên huỳnh quang của ông Julius và cộng sự là nền tảng quan trọng cho kỹ thuật phân loại tế bào tự động sau này.

1.2 Nguyên lý:

Nguyên lý tập trung thủy động lực học (Hydrodynamic focusing)

+Hỗn dịch pha loãng tế bào được chuyển từ buồng trộn tới buồng đếm

+Hỗn dịch được bơm vào dòng dung dịch Sheath đang chảy nhanh

+Hai dòng dịch này chảy với tốc độ khác nhau và không bị lẫn vào nhau

+Cấu trúc đặc biệt của buồng đếm + Tốc độ chảy cao của dòng dung dịch Sheath ép dòng tế bào dịch chuyển theo thứ tự từng tế bào

• Ánh sáng tán xạ gồm ánh sáng tán xạ thẳng- forward scatter (FSC) và ánh sáng tán xạ bên - side scatter (SSC).

• FSC bao gồm các ánh sáng bị nhiễu xạ,dùng để phân biệt về kích thước hoặc thể tích tế bào

SSC bao gồm hầu hết các ánh sáng khúc xạ và ánh xạ, được thu ở góc 90o so với chùm tia tới laser, tỉ lệ với thành phần các hạt hoặc độ phức tạp bên trong tế bào

Ghi nhận tín hiệu ánh sáng tán xạ:

• Ánh sáng được tán xạ qua 4 góc: 0 độ, 10 độ, 90 độ và 90 độ D

• Các tín hiệu ánh sáng tán xạ được tạo ra bởi các hạt đi qua chùm tia lazer trong một dòng dung dịch được chuyển thành tín hiệu điện và được ghi nhận nhờ photodetector: photodiode (PDs) và photomultiplier tubes (PMTs). Photocathode của PMT có độ nhạy cao hơn so với PD. PD có khả năng chuyển ánh sáng thành photoelectron hiệu quả hơn. PD có khả năng phát hiện các tín hiệu ánh sáng mạnh hơn được tạo ra bởi FSC. PMTs thường được sử dụng để phát hiện các tín hiệu yếu hơn được tạo ra bởi SSC và ánh sáng huỳnh quang.

• Phân tích tế bào máu bằng máy đếm laser sẽ phân biệt được 5 loại bạch cầu: Neutrophil, Lymphocyte, Monocyte, Eosinophil và Basophil

2. Phương pháp dựa trên phép đo điện:

2.1 Lịch sử

Vào cuối những năm 1940, ông Wallace Coulter đã nghiên cứu một phương pháp đánh giá các hạt trong nước sơn. Những trải nghiệm trong hải quân và việc chứng kiến hậu quả sau vụ nổ bom nguyên tử vào cuối chiến tranh thế giới thứ 2 đã thúc đẩy ông tìm kiếm cách thức để ứng dụng kỹ thuật của mình vào việc đếm tế bào máu. Trong một phát minh được gọi là hiệu ứng Coulter, ông đã chế tạo được một dụng cụ phân tích tế bào máu đơn giản có thể đếm số lượng tế bào máu một cách nhanh chóng. Hiệu ứng Coulter dựa trên nguyên lý các tế bào máu là chất dẫn điện kém so với với dung dịch muối và khi cho các tế bào máu riêng lẻ đi qua một lỗ nhỏ cùng lúc với dòng điện làm giảm cường độ dòng điện, khi càng nhiều tế bào đi qua thì điện trở xuất hiện càng lớn do các hạt có tính chất cản trở điện. Độ lớn của xung điện tỉ lệ với thể tích của tế bào, số lượng xung điện tương ứng với số lượng tế bào. Đây chính là nền tảng để đếm và phân loại tế bào dựa trên kích thước. Khái niệm đơn giản này đã làm nền tảng cho sự phát triển của các thế hệ máy phân tích huyêt học tự động hiện đại sau này.

Sau phát minh của ông Coulter vào năm 1953 thì có nhiều sự cải tiến hơn sau này, phổ biến là đếm tế bào dòng chảy bằng cách cho tế bào chảy trực tiếp qua kênh đếm (flow cell) hoặc buồng đếm (chamber) thay vì đi qua một khe hở (aperture) như trước.

Năm 1965, ông Fulwyler sử dụng phương pháp đếm của ông Coulter để đo thể tích tế bào. Phương pháp của ông Fulwyler và phương pháp dựa trên huỳnh quang của ông Julius và cộng sự là nền tảng quan trọng cho kỹ thuật phân loại tế bào tự động sau này.

2.2 Nguyên lý:

Buồng đếm gồm 2 ngăn thông nhau qua một lỗ nhỏ nằm trên phiến Aperture. Ở mỗi ngăn có gắn điện cực, hai điện cực của hai ngăn trái dấu nhau. Giữa hai điện cực có một điện thế ổn định. Dung môi dẫn điện là hóa chất chạy máy

Tế bào di chuyển từ ngăn trái sang ngăn phải. Tế bào không dẫn điện nên chính nó tạo ra một điện trở. Do đó khi đi qua lỗ đếm, tế bào làm thay đổi điện thế vốn ổn định giữa hai điện cực. Sự thay đổi đột ngột điện thế giữa hai điện cực được máy biểu hiện dưới dạng xung điện. Tế bào có kích thước lớn tạo ra xung điện có biên độ lớn và ngược lại, tế bào có kích thước nhỏ tạo ra xung điện có biên độ nhỏ. Tổng số xung điện thu được là tổng số tế bào đi qua lỗ đếm. Biên độ xung điện còn được dùng để phân loại tế bào.

Phương pháp đo trở kháng sẽ cho kết quả có 3 loại bạch cầu: Granular (Neutrophil), Mid bao gồm những bạch cầu có kích thước trung bình (Monocyte, Eosinophil, Basophil ) và bạch cầu Lymphocyte

Trong máu ngoại biên bạch cầu Mono có kích thước lớn nhất trog 5 loại bạch cầu. Nhưng khi chạy máy, hóa chất sẽ làm vỡ tế bào chất của bạch cầu, chỉ có nhân tế bào bạch cầu đi vào buồng đếm, do đó kích thước bạch cầu Neutrophil > Mid (Monocyte, Eosinophil, Basophil ) > Lymphocyte



Trục đứng biểu thị số lượng, trục ngang biểu thị kích thước

3. Những hạn chế trong quá trình phân tích tế bào máu bằng máy đếm tự động:

Ở mỗi máy xét nghiệm công thức máu sẽ có những hạn chế riêng tùy vào phương pháp đo. Một trong những lỗi sai phổ biến của máy là mảnh vỡ hồng cầu, bạch cầu, hồng nhỏ bị đếm nhầm thành tiểu cầu làm tăng giả tạo số lượng tiểu cầu; hay trong một số trường hợp tiểu cầu kết cụm bị đếm nhầm thành bạch cầu dẫn đến số lượng tiểu cầu bị giảm mà bạch cầu lại tăng. Trong một số trường hợp hồng cầu bệnh nhân chứa HbS, HbC thì sẽ khó bị ly giải và những hồng cầu không bị ly giải máy sẽ đếm thành hồng cầu nhân hoặc bạch cầu, trong trường hợp này nồng độ Hgb sẽ thấp và số lượng hồng cầu nhân, bạch cầu sẽ tăng cao hơn.

4. Những hạn chế do mẫu máu: Kháng thể lạnh, mỡ máu cao, bilirubin cao, máu bị tán huyết, tiểu cầu kết cụm, hồng cầu nhân… Hình bên dưới là cách khắc phục những sai số do mẫu máu.

Tài liệu tham khảo:

1.https://www.researchgate.net/publication/272186770_Development_History_and_Future_of_Automated_Cell_Counters

2. Bernadette F. Rodak (2012). Hematology Clinical Principles and Application, Fourth Edition
***Trương Bích Liễu***

Want your business to be the top-listed Restaurant in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Telephone

Address


29 Phú Châu - Tam Phú - Thủ Đức
Ho Chi Minh City
Other Ho Chi Minh City restaurants (show all)
NHAU NHAU NHAU NHAU
2F, 89 Ton That Dam
Ho Chi Minh City

ANAN RESTAURANT | ROOFTOP BAR | NHAU NHAU 89 Ton That Dam, D1 Messenger: http://m.me/AnanSaigon/ WhatsApp/Phone: ‪+84 904 792920‬ Email: [email protected]

Căn Hộ Trung Tâm Quận 7 Căn Hộ Trung Tâm Quận 7
3 Trần Nhật Duật, P. Tân Định, Quận 1
Ho Chi Minh City, 700000

Nguyệt Silk Nguyệt Silk
47/6 Trương Quốc Dung
Ho Chi Minh City, 700000

Home-made snacks & skin care products

Hải sản Giang Ghẹ 688 QL13 - Thủ Đức Hải sản Giang Ghẹ 688 QL13 - Thủ Đức
688 Quốc Lộ 13, Thủ Đức
Ho Chi Minh City, 70000

Giang Ghẹ chuyên cung cấp hải sản tươi sống đang bơi, và là nhà hàng và chợ hải sản tươi sống lớn nhất TP. HCM

Street Coffee Street Coffee
Lầu 4, Số 538 Cách Mạng Tháng 8, P11, Q3
Ho Chi Minh City, 70000

Di Động Hàn Quốc Di Động Hàn Quốc
142 Đường D2 - P.25 - Q.Bình Thạnh
Ho Chi Minh City

MAMA Coffee & Tea MAMA Coffee & Tea
28 Bát Nàn, Phường Thạnh Mỹ Lợi, KDC Bán đảo Kim Cương, Quận 2
Ho Chi Minh City, 70000

Enjoy Coffee & Tea and Delicious Halal Food

Banklandcoffe_bán Đất Q.12 Banklandcoffe_bán Đất Q.12
48 Đường Thạnh Lộc 13
Ho Chi Minh City, 48

Take Your Fancy Take Your Fancy
213/005 Nguyen Van Cu Streer, Ward 4, District 5
Ho Chi Minh City, 00070

Tiệm bán tùm lum tà la thứ, thích gì bán nấy, mời các bạn thương yêu gần xa tới chơi :D

Dưa Chuột Detox Water Dưa Chuột Detox Water
163/1 Hoàng Hoa Thám F13 Q Tân Bình
Ho Chi Minh City, 700000

Detox Dưa Chuột làm hoàn toàn từ trái cây tươi nhập khẩu và nước khoáng giúp bạn thanh lọc cơ thể, đẹp da hoặc giảm cân. INBOX NGAY được tư vấn miễn phí!

ẨM THỰC TÔ HẢI ẨM THỰC TÔ HẢI
149 ĐƯỜNG 458 TRUNG AN CỦ CHI
Ho Chi Minh City

Mai Khá Coffee 2 Mai Khá Coffee 2
40/25 Lê Đức Thọ Phường 7 Quận Gò Vấp
Ho Chi Minh City

Quán chúng tôi luôn đặt chất lượng và cách phục vụ lên hàng đầu...cà phê sử dụng 100% hạt mộc CULI chọn lựa Trà sữa dùng bằng trà đen & bột sữa cao cấp ...